Phần mở đầu - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chiến lƣợc của doanh nghiệp; Luan van 5 - Chƣơng 2: Phân tích môi trƣờng hoạt động của Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC; - Chƣơng 3: Hoàn thiện chiến lƣợc của Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC đến năm 2025; - Kết luận và Kiến nghị 6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC : - Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC về c. - Cung Công ty TNHH MTV Dịch vụ Cơ khí Hàng hải PTSC nay đến năm 2025. Luan van 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm chiến lƣợc và quản trị chiến lƣợc 1. Khái niệm chiến lƣợc Chiến lƣợc (xuất phát từ Hy Lạp là “strategos”) là một thuật ngữ quân sự đƣợc dùng để chỉ kế hoạch dàn trận và phân bố lực lƣợng với mục tiêu đánh thắng kẻ thù. Nhà binh pháp của thế kỷ 19 Carl Von Clausewitz đã mô tả chiến lƣợc là “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến. Những chiến dịch ấy sẽ quyết định sự tham gia của từng cá nhân”.
Sử gia Edward Mead Earle đã mô tả chiến lƣợc là “nghệ thuật kiểm soát và dùng nguồn lực của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia nhằm mục đích đảm bảo và gia tăng hiệu quả cho quyền lợi thiết yếu của mình”. Trong Từ điển tiếng Việt, học giả Đào Duy Anh (1932) đã viết: chiến lƣợc là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận. Nhƣ vậy, trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ “chiến lƣợc” đƣợc coi nhƣ nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi trong một cuộc chiến tranh. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ “chiến lƣợc” đƣợc áp dụng vào lĩnh vực kinh doanh và từ đó ra đời thuật ngữ “Chiến lƣợc kinh doanh”.
Quan niệm về chiến lƣợc kinh doanh phát triển dần theo thời gian và ngƣời ta đã tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. Theo truyền thống các doanh nghiệp đƣợc hình thành với một hoặc nhiều sản phẩm. Trải qua quá trình kinh doanh, doanh nghiệp ấy đối phó với đối thủ cạnh tranh, đối phó với yêu cầu của khách hàng, đối phó với những thay đổi trong môi trƣờng kinh doanh bằng cách điều chỉnh sản phẩm, dịch vụ và chính sách và họ xoay sở để tồn tại trên thị trƣờng. Từ đó thuật ngữ “chiến lƣợc kinh doanh” đƣợc định nghĩa theo quan điểm truyền thống là việc xác định những mục tiêu cơ bản của một tổ chức để từ đó đƣa ra các chƣơng trình hành động cụ thể cùng với việc sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý để đạt đƣợc các mục tiêu đã đề ra.
Luan van 7 Ngày nay, các tổ chức kinh doanh cũng áp dụng khái niệm chiến lƣợc tƣơng tự nhƣ trong quân đội. Chiến lƣợc là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của tổ chức nhƣ con ngƣời, tài sản, tài chính… nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Kenneth Andrews là ngƣời đầu tiên đƣa ra các ý tƣởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “The Concept of Corporate Strategy”. Theo ông, chiến lƣợc là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa.
Các học giả kinh tế hiện đại trên thế giới đã đƣa ra một số định nghĩa tiêu biểu về chiến lƣợc nhƣ sau: - Theo Michael E.Porter (1996): Chiến lƣợc là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ.Chandler (1962):Chiến lƣợc bao gồm những mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động, phân bổ nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.David (2012): Chiến lƣợc là những phƣơng tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn. Chiến lƣợc kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trƣờng, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh .Quinn (1980): Chiến lƣợc kinh doanh là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau.Glueck (1984): Chiến lƣợc là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, đƣợc thiết kế đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ đƣợc thực hiện. Tuy nhiên, dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lƣợc kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tƣơng lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lƣợc kinh doanh đƣợc dùng theo ba ý nghĩa phổ biến nhất.
Đó là: Luan van 8 - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp; - Đƣa ra các chƣơng trình hành động tổng quát; - Lựa chọn các phƣơng án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: “Chiến lƣợc kinh doanh là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều khiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp”. Khái niệm quản trị chiến lƣợc Theo Alfred D.Chander (1962): Quản trị chiến lƣợc là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, lựa chọn cách thức hoặc phƣơng hƣớng hành động và phân bố tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.David (2006): Quản trị chiến lƣợc có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt đƣợc những mục tiêu đề ra. Coi chiến lƣợc kinh doanh là một quá trình quản trị đã tiến tới quản trị doanh nghiệp bằng tƣ duy chiến lƣợc với quan điểm: Chiến lƣợc hay chƣa đủ, mà phải có khả năng tổ chức thực hiện tốt mới đảm bảo cho doanh nghiệp thành công.
Quản trị doanh nghiệp mang tầm chiến lƣợc, đây chính là quan điểm tiếp cận quản trị chiến lƣợc phổ biến hiện nay. Trong điều kiện biến động của môi trƣờng kinh doanh hiện nay, hơn bao giờ hết, chỉ có một điều mà các doanh nghiệp có thể biết chắc chắn, đó chính là sự thay đổi. Quá trình quản trị chiến lƣợc nhƣ là việc vạch ra một hƣớng đi giúp các doanh nghiệp này vƣợt qua sóng gió trong thƣơng trƣờng, vƣơn tới tƣơng lai, bằng chính nỗ lực và khả năng của doanh nghiệp. Đây là kết quả của sự nghiên cứu khoa học trên cơ sở thực tiễn kinh doanh của rất nhiều doanh nghiệp và thực sự là một sản phẩm của khoa học quản lý, bởi lẽ nếu các doanh nghiệp xây dựng đƣợc một quá trình quản trị tốt, họ sẽ có một cơ sở tốt để đƣa doanh nghiệp tiến lên phía trƣớc.
Tuy vậy, mức độ thành công còn phụ thuộc vào năng lực và mức độ triển khai của từng doanh nghiệp. Luan van 9 Việc áp dụng quản trị chiến lƣợc, về cơ bản, sẽ đem lại cho doanh nghiệp những lợi ích nhƣ sau: 1. Giúp nhận dạng, sắp xếp ƣu tiên và tận dụng các cơ hội; 2. Đƣa ra cách nhìn thực tế về các khó khăn của công tác quản trị; 3.
Đƣa ra một đề cƣơng cho việc phát triển đồng bộ các hoạt động điều hành doanh nghiệp; 4. Nhận dạng và có kế hoạch hành động để làm tối thiểu hóa các rủi ro và hậu quả nếu có; 5. Hỗ trợ quá trình đƣa ra các quyết định chủ chốt và phục vụ tốt hơn cho việc đề ra các mục tiêu của doanh nghiệp; 6. Giúp cho sự phân bổ tốt hơn thời gian và nguồn lực cho cơ hội đã đƣợc xác định; 7.
Cho phép giảm thời gian và nguồn lực cần thiết để sửa đổi những lỗi lầm và các quyết định thời điểm; 8. Tạo ra khung sƣờn cho mối liên hệ giữa các cá nhân trong nội bộ công ty; 9. Giúp kết hợp những hành vi đơn lẻ thành một nỗ lực chung; 10. Cung cấp cơ sở cho việc làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân; 11.
Đem lại sự khuyến khích cho những suy nghĩ tiến bộ; 12. Mang lại cách thức hợp tác, gắn bó và hăng say trong việc xử lý các vấn đề cũng nhƣ các cơ hội; 13. Khuyến khích thái độ tích cực đối với sự thay đổi; 14. Đem lại một mức độ kỷ luật và sự chính thức đối với công tác quản trị trong công ty.
Khái niệm xây dựng chiến lƣợc Theo Alfred D.Chandler (1962), nhà nghiên cứu lịch sử quản lý tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ, thì: Xây dựng chiến lƣợc là việc xác định những định hƣớng và mục tiêu dài hạn cơ bản của tổ chức và đƣa ra phƣơng án hành động và sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt đƣợc những định hƣớng, mục tiêu đó. Luan van 10 Theo các tác giả Garry D.Bizzell (2007): Xây dựng chiến lƣợc là quá trình nghiên cứu các môi trƣờng hiện tại cũng nhƣ tƣơng lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức; đề ra, thực hiện, kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đó trong môi trƣờng hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Dù theo khái niệm nào đi chăng nữa thì nhìn chung xây dựng chiến lƣợc chính là quá trình định vị và thiết lập chiến lƣợc một cách có hệ thống, ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp phù hợp nhất với tổ chức để thực hiện những mục tiêu đó. Xây dựng chiến lƣợc nhằm đƣa ra các phân tích định hƣớng và dự đoán trên cơ sở khoa học trong dài hạn.
Quá trình xây dựng chiến lƣợc sẽ đƣợc xem xét trên tổng thể doanh nghiệp hoặc trên mỗi bộ phận quan trọng bên trong doanh nghiệp. Một chiến lƣợc kinh doanh thông thƣờng bao gồm bốn yếu tố: 1) Mục tiêu chiến lƣợc; 2) Phạm vi chiến lƣợc; 3) Lợi thế cạnh tranh; 4) Các hoạt động chiến lƣợc và năng lực cốt lõi. Bốn yếu tố này đòi hỏi một sự nhất quán và ăn khớp với nhau trong quá trình xây dựng chiến lƣợc của doanh nghiệp nhằm đảm bảo chiến lƣợc đƣợc xây dựng hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất có thể cho doanh nghiệp, và giúp doanh nghiệp xây dựng đƣợc lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài trong quá trình phát triển của doanh nghiệp. Các loại hình chiến lƣợc Trong một tổ chức, công việc quản trị chiến lƣợc có thể tiến hành ở 03 cấp cơ bản: Cấp công ty; Cấp đơn vị kinh doanh; và Cấp bộ phận chức năng.