CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUA HOAT DONG VA CAC NHAN TO ANH HUONG DEN HIEU QUA HOAT DONG CỦA DOANH NGHIỆP. HIỆU QUÁ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP. Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Theo từ điển kinh tế Anh Việt: Hiệu quả là mối tương quan giữa đầu. vào của các yếu tổ khan hiếm với đầu ra là những hàng hóa, dich vụ.
Tùy theo hình thái đo lường khác nhau mà hiệu quả được gọi là hiệu quả kỹ thuật (đo lường bằng hiện vật) hoặc hiệu quả kinh tế (đo lường bằng chỉ phí). “Trong thực tiễn đời sống xã hội tồn tại rất nhiều mặt hoạt động khác. chính trị, xã hội,.Do vậy, khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó người ta gắn tên của lĩnh vực đó liền ngay sau hiệu quả như hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả chính trị. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế trong một.
thời kỳ hay một giai đoạn nhất định. Trong phạm vi từng doanh nghiệp riêng lẻ thì hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, 'Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp của GS/TS. Ngô Đình Giao, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội - 1997, trang 40§ cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế. là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chỉ phí bỏ ra để có kết cquả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt đông kinh tế đó”' Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thể hiểu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh.
trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và những chỉ phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả cảng cao. Trên góc độ nàythì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường, Theo giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh phẩn II của PGs TS.Trương Bá Thanh và TS.Trần Đình Khôi Nguyên - trường Đại học. Kinh tế Đà Nẵng thì hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng.) với đầu vào là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực. Như vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả cơ bản được tính như sau: Đầu ra Hiigu quả hoạt động Đầu vào Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thường được xem xét trên hai góc độ là hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tài chính.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ tiêu được nhiều nghiên cứu quan tâm là: Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROI), tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. (ROE), tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ROS) và tỷ lệ lãi cơ bản trên cổ phiếu phổ thông (EPS) để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu này được quan tâm nhiều vì nó liên quan đến lợi ích của. nhà quản lý, chủ đầu tư, khách hàng, đối tác. và xét cho cùng đó là chỉ tiêu. lợi nhuận đối với các bên có liên quan đến doanh nghiệp.
Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Chi tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu số tuyệt đối không có ý nghĩa nhiều trong công 10 tác phân tích, so sánh, thống kê. Do vậy, lựa chọn các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận như: ROI, ROS, ROA, ROE, EPS sẽ có ý nghĩa so sánh hiệu quả hoạt động giữa các chủ thể khác nhau về thời gian, không gian. + Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn (ROI): trong quá trình kinh doanh, doanh.
nghiệp muốn lấy thu bù chỉ và có lãi, bằng cách so sánh lợi nhuận với vốn đầu. tư sẽ thấy được khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ vốn, có th tính bằng công thức: "Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn “Tổng lợi nhuận trước thu và lãi vay. (®OD) Tổng vốn bình quân Tông ốn bình quân được hiểu là tổng tài sản bình quân: Tổng tài san bình quân = Tổngt sản của năm/ 4 + Tÿ lệ lợi nhuận trên tài sản (RO4): trong quá trình tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp đều mong muốn có lãi, bằng cách so sánh lợi nhuận với tài sản đầu tư sẽ thấy được khả năng tạo ra lợi nhuận tử tải sản, có. thể xác định bằng công thức: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản _ — Lợinhuận trước thuế (ROA) Tổng tài sản quân Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp bỏ ra 1 đồng tài sản đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ.
hiệu quả sử dụng tài sản tốt, đó là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. 'Tỷ suất sinh lời tài sản có thể được viết lại theo phương trình Dupont như sau: Lợi nhuận trước thuế Doanhthu ROA £ CC ————— xCC———xI00% Doanh thu “Tổng tai sin BQ " Hay ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dung tai san Từ phương trình trên cho thấy tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ với tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản. Tuy nhiên chỉ tiêu ROA chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận còn chịu tác động bởi chính sách tải trợ. + Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): là chỉ tiêu phần ánh một đơn vị vốn đầu tư của chủ sở hữu đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế, Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng tốt, góp phần nâng cao khả năng đầu tư của chủ.
doanh nghiệp và được xác định theo côngthức: "Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở Lợi nhuận sau thuế hữu (ROE) 'Vốn chủ sở hữu bình quân. Trong đó, số vốn chủ sở hữu bình quân được xác định bằng trung bình giữa vốn chủ sở hữu cuối kỳ và đầu kỳ: 'Vốn chủ sở hữu bình quân = (Số vốn chủ sở hữu hiện có đầu kỳ + Số vốn chủ sở hữu hiện có cuỗi kỳ)/ 2 “Tiếp cận theo quan điểm của Bied ~ Charreton (1920) đưới dạng khai triển phương trình Du-pont về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu như sau: Lợi nhuận trước thuế Doanh thụ “Tổng tải sin BQ * Tonging taiwi sin x 100% mors Doanh thú VCSH Bi Q BQ 'Từ phương trình Dupont cho thấy mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ suất sinh lời doanh thu và hiệu suất quản lý tài sản. Hay ROE và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mỗi quan hệ với nhau. Ngoài 12 ra, phương trình trên còn cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc tải chính của doanh nghiệp.
+ Tỳ lệ lợi nhuận trên doanh thu (ÑROS): chỉ tiêu này cho biết một đơn vị doanh thu thuần dem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế, tị số của chỉ tiêu này cảng lớn, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cảng tốt và ngược lại. Trong phân tích kinh doanh, chỉ tiêu này được sử dụng như một chỉ tiêu bổ sung để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và được xác định theo công thức: Lợi nhuận sau thuế Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu. = Doanh thu thuần + Lai cơ bản trên cổ phiếu (EPS): là chỉ tiêu phản ánh mức lợi nhuận mà một cổ phiếu thường có được trong kỳ. Chỉ tiêu này được sử dụng rộng rãi trong CTCP và được xác định như sau Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức chỉ trả cho.
Lãi cơ bản trên - _ cổ phiếu ưu đãi cỗ phiếu Số lượng cổ phiều thường bình quân đang lưu hành Chi tiêu này cho biết trong kỳ phân tích, các cỗ đông đầu tư 1 đồng cổ phiếu phổ thông theo mệnh giá thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này cảng cao càng hấp dẫn các nhà đầu tư. Việc đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh có thể bị tác động bởi mục tiêu của doanh nghiệp mà mục tiêu này có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn cách đo lường u quả hoạt động của doanh nghiệp. Hai chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kế toán đại diện đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh là ROA va ROE đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng và trong thực tiễn, các 13 nhà quản lý doanh nghiệp thường sử dụng những chỉ tiêu tải chính để do lường, báo cáo và cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. ‘Tom lai, hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh rất da dang va phong phú, có thể đáp ứng được nhiều nhu cầu khác nhau nên khi đánh giá hiệu quả doanh nghiệp tủy từng điều kiện cụ thể, cho phép sử dụng những chỉ tiêu chủ yếu nhất để thỏa mãn mục đích nghiên cứu phủ hợp nhất.
Những đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp nhà nước sau cố phần hóa Thứ nhất, đặc điểm về vốn 'Vốn của doanh nghiệp bao gồm vồn có định, vốn lưu động và các vốn chuyên dùng khác (các quỹ của doanh nghiệp, vốn xây dựng cơ bản) và doanh nghiệp phải có nhiệm vụ tổ chức và huy động các loại vốn cần thiết cho nhu cầu kinh doanh cũng như phân phối, quản lý và sử dụng vốn hiện có. một cách hợp lý, hiệu quả trên cơ sở chấp hành đầy đủ các chính sách và kỷ luật tài chính của Nhà nước. 'Vốn của doanh nghiệp sau CPH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: vốn góp từ các cổ đông (nhà nước, người lao động và người quản lý doanh nghiệp) dưới hình thức mua cổ phiếu; vốn bổ sung từ kết quả. kinh doanh; vốn vay nợ ngắn hạn và dài hạn, vay tín dụng ngân hàng; vốn huy.
động từ các quỹ của doanh nghiệp (quỹ phát triển sản xuất, quỹ trợ cấp mắt việc làm, quy khen thưởng, quỹ phúc lợi.