CHƯƠNG I VAI TRÒ CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP TRONG TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1.1/ Giới thiệu tổng quan về doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam được hình thành từ năm 1954 (ở miền Bắc) và từ sau 1975 (ở miền Nam). Do hoàn cảnh lịch sử, các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau và được xây dựng trên cơ sở của nhiều quan điểm nên có nhiều đặc trưng khác biệt so với doanh nghiệp nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, biểu hiện ở chỗ: - Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé, cơ cấu phân tán. Năm 1992, cả nước có trên 2/3 tổng số doanh nghiệp Nhà nước có số lượng lao động dưới 100 người, chỉ có 4% doanh nghiệp có số lượng lao động trên 100 người. Số lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong tổng số lao động xã hội, khoảng 5-6% 1.
- Tỷ trọng doanh nghiệp Nhà nước có vốn dưới 5 tỷ đồng còn chiếm tới gần 40% tổng số doanh nghiệp Nhà nước. Hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp Nhà nước còn thấp, sức cạnh tranh chưa đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế. Còn khoảng 10% doanh nghiệp làm ăn thua lỗ 2. - Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu, trừ một số rất ít (khoảng 18%) số doanh nghiệp Nhà nước được đầu tư mới trong thời gian gần đây, phần lớn các công nghệ của doanh nghiệp Nhà nước đã được sử dụng khá lâu, có trình độ kỹ thuật thấp kém so với các nước từ 3 đến 4 thế hệ.
Có doanh nghiệp còn trang bị các thiết bị máy móc từ những năm 1930 của thế kỷ trước và trước đó được xây dựng bằng kỹ thuật của nhiều nước khác nhau nên tính đồng bộ của hệ thống máy móc thấp. Khi chuyển sang nền kinh tế 1 “Nguồn: Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội Quốc gia, Tình hình cải cách doanh nghiệp Nhà nước (08/12/2005)” [24] 2 “Nguồn: Ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương, Báo cáo tại Hội nghị Nhóm Tư vấn các nhà tài trợ - CG 2005, Hà Nội ngày 06-07/12/2005” [26] - Việc phân bổ còn bất hợp lý về ngành, vùng. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp Nhà nước không còn được bao cấp như trước, bị các thành phần kinh tế khác cạnh tranh quyết liệt, nhiều doanh nghiệp không thể trụ nổi buộc phải giải thể hoặc phá sản. Trong những năm gần đây, chúng ta đã tiến hành cải cách doanh nghiệp Nhà nước, do đó mặc dù số lượng các doanh nghiệp đã giảm từ 12.700 doanh nghiệp Nhà nước (tính đến hết năm 2005) 3 , nhờ sự đổi mới về tổ chức quản lý, về kỹ thuật và công nghệ của các doanh nghiệp còn lại, tỷ trọng tổng sản phẩm quốc dân (GDP) của khu vực kinh tế Nhà nước so với toàn bộ nền kinh tế không những không giảm mà còn tăng lên đáng kể.2 sau cho thấy rõ điều đó: Bảng 1.1: Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP (%) của Việt Nam Giai đoạn (năm) 1971-1980 1981-1985 1986-1990 1991-1997 2001-2005 Tốc độ tăng trưởng 0,4 6,4 3 7,8 đến 8,5 7,51 kinh tế bình quân “Nguồn: Tổng cục Thống kê, Trang thông tin điện tử ngày 14/4/2006 ” [23] Bảng 1.2: Tỷ trọng GDP (%) của kinh tế Nhà nước so với toàn bộ nền kinh tế Năm 1990 1991 1992 1993 1997 2000 2002 Tỷ trọng GDP của kinh tế quốc doanh so với 34,1 36 39,6 42,9 43,6 47,1 46,3 toàn bộ nền kinh tế “Nguồn: Tổng cục Thống kê, Trang thông tin điện tử ngày 14/4/2006 ” [23] Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã tăng nhanh, đặc biệt các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng vai trò chủ yếu trong nhiều ngành kinh tế, nhất là những ngành quan trọng đòi hỏi đầu tư lớn, kỹ thuật cao và các ngành sản xuất cung ứng các hàng hóa và các dịch vụ công cộng.
Đồng thời doanh nghiệp Nhà nước vẫn là thành phần kinh tế đóng góp chủ yếu cho ngân 3 “Nguồn: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương, tháng 2/2006” [26] Kế hoạch 2006 600 2005 693 2004 753 2003 532 2002 164 205 2001 2000 212 1999 253 123 Giai đoạn 1992-1998 0 200 400 600 800 Hình 1.1: Thống kê số lượng doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa “Nguồn: Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Trung ương, tháng 2/2006” [26] Những đặc điểm trên luôn chi phối phương hướng, bước đi và biện pháp trong quá trình đổi mới ở nước ta. Sau hơn 10 năm đổi mới và sắp xếp, các doanh nghiệp Nhà nước đã và đang chuyển hướng khá căn bản, đã sắp xếp lại một bước quan trọng, giảm được gần một nửa số doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp địa phương nhỏ bé, hoạt động không hiệu quả. Số lớn doanh nghiệp còn lại được tổ 1.2/ Vai trò của định giá doanh nghiệp trong tiến trình cổ phần hóa Cổ phần hóa thực chất là việc Nhà nước bán một phần hoặc toàn bộ giá trị hiện có thuộc phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp cho các cổ đông; hoặc giữ nguyên giá trị thuộc phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp và phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp. Theo nguyên tắc kế toán, giá trị tài sản của doanh nghiệp được ghi nhận theo thực tế tạo thời điểm phát sinh nghiệp vụ mua hay nhập tài sản, thông thường giá này thường khác biệt rất nhiều so với giá thị trường tại thời điểm cổ phần hóa doanh nghiệp.
Vì vậy, để cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, cần thiết phải xác định giá trị các doanh nghiệp này. Mặt khác, giá trị thực tế của doanh nghiệp không phải chỉ là tổng cộng giá trị các tài sản hiện có trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, mà còn bao gồm cả các giá trị tài sản vô hình như lợi thế kinh doanh, giá trị thương hiệu, đội ngũ các nhà quản trị doanh nghiệp tài giỏi. Hơn nữa, cổ phần hóa giúp nền kinh tế huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp. Đồng thời cổ phần hóa còn phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động, tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy vậy, tiến trình cổ phần hóa hiện nay còn diễn ra khá chậm. Trước đây, một trong những lý do chính của việc chậm cổ phần hóa là do thiếu văn bản, chính sách hướng dẫn. Nhưng từ khi Nghị định 187/2004/NĐ-CP ra đời và các văn bản hướng dẫn khác cũng lần lượt được các cơ quan hữu quan ban hành, các quy định mới đã cho phép cổ phần hóa các doanh nghiệp, tổng công ty lớn, nắm giữ các vị trí then chốt trong nền kinh tế như Tổng Công ty Điện lực, Tổng Công ty Hàng không, Tổng Công ty Hàng hải, Tổng Công ty Xăng-Dầu. Tuy nhiên, vẫn còn có những nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa ở hầu hết các bộ, ngành, địa phương.
Những nguyên nhân đó xuất phát từ nhận thức của cán bộ, công nhân viên đến cơ chế chính sách đối với người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa; từ cơ sở pháp lý cho cổ phần hóa còn nhiều bất cập đến quy trình cổ phần hóa còn rườm rà, cứng nhắc; từ khó khăn trong việc xử lý nợ và tài sản tồn đọng cho đến đặc biệt là khâu xác định giá trị tài sản doanh nghiệp rất phức tạp. Chính vì vậy, vướng mắc chủ yếu là làm thế nào xác định được giá trị doanh nghiệp một cách hợp lý và chính xác. Hiện nay, việc xác định giá trị doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn và thường bị kéo dài. Trong các doanh nghiệp Nhà nước, tài sản cố định thường được trang bị thiếu đồng bộ, công nghệ lạc hậu, lại qua nhiều lần đánh giá cho nên việc đánh giá lại giá trị của tài sản là điều không đơn giản.
Nếu định giá tài sản của doanh nghiệp khi cổ phần hóa không đúng với giá trị thực thì sẽ không gây thất thoát tài sản của Nhà nước thì cũng làm giảm lợi ích của nhà đầu tư, trong đó có người lao động. Điều này dẫn đến thật khó có thể dung hòa được lợi ích của các bên để đưa ra quan điểm chung thống nhất Do vậy, để quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước được thực hiện đúng với chủ trương đã đề ra, yêu cầu cần thiết phải xác định lại giá trị doanh nghiệp cho sát với giá thị trường, làm cơ sở cho việc định giá bán cổ phần và hiện nay phần lớn các ý kiến đều cho rằng cơ chế tạo ra giá trị thỏa đáng của doanh nghiệp chính là giá thị trường trên cơ sở cung-cầu và cạnh tranh.3/ Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 1.1/ Khái niệm giá trị doanh nghiệp Doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt. Đối với người đầu tư mua doanh nghiệp thì giá trị sử dụng của hàng hóa này là nó có khả năng cung ứng một lượng hàng hóa cho xã hội và thông qua đó người đầu tư thu được khoảng lợi Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp có đặc điểm riêng về cơ sở vật chất kỹ thuật, về điều kiện và vị thế kinh doanh.
Do vậy, mỗi doanh nghiệp đưa ra xác định giá trị là một hàng hóa đơn chiếc, cá biệt, không giống nhau giữa các doanh nghiệp. Vì thế, đòi hỏi trong việc xác định giá trị doanh nghiệp cần xem xét thận trọng và lựa chọn phương pháp phù hợp. Kết quả định giá doanh nghiệp không phải là giá cả của doanh nghiệp. Cũng giống như các loại hàng hóa khác, giá trị thị trường của doanh nghiệp chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung- cầu,.
nên kết quả xác định giá trị doanh nghiệp chỉ là một căn cứ cơ sở để xem xét thương lượng.2/ Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai sẽ quyết định giá trị doanh nghiệp. Kết quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố thuộc về môi trường kinh doanh và các nhân tố thuộc nội tại doanh nghiệp. Vì vậy, để xác định giá trị doanh nghiệp trước hết chúng ta phải hiểu được các nhân tố chủ yếu quan trọng và ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.