Chương 1: Lý luận chung về Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. -9- CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm và bản chất của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc 1. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Có thể nhận thấy một quan điểm khá phổ biến hiện nay cho rằng vai trò của DNNN ngày càng giảm khi kinh tế thị trường phát triển (Nguyễn Mạnh Quân, 2013).
Để hiểu rõ hơn về khái niệm CPH DNNN, trước tiên tác giả xét về khái niệm DNNN. Theo Ngân hàng thế giới (1999) thì DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyền sở hữu hay quyền kiểm soát thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc bán hàng hoá và dịch vụ. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc: “DNNN là các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước hoặc do Nhà nước kiểm soát có thu nhập chủ yếu từ việc tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ”. Doanh nghiệp nhà nước là một tổ chức kinh tế tự quyết thuộc quyền sở hữu nhà nước, do nhà nước kiểm soát và thường được các chính phủ sử dụng như một công cụ chính sách để thực hiện các mục đích phát triển kinh tế-xã hội và điều tiết nền kinh tế thông qua việc tham gia trực tiếp vào các hoạt động sản xuất và kinh doanh (Nguyễn Mạnh Quân, 2013).
Kế đến, tác giả xét khái niệm về CPH vì điều này sẽ giúp tác giả tiếp cận khái niệm về CPH DNNN một cách đầy đủ và chính xác. Theo Dương Đức Chính (2008), Cổ phần hóa là cách gọi tắt của việc chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam. Xét về mặt hình thức, CPH là việc Nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị của mình trong DNNN cho cán bộ quản lý và công nhân của DN hoặc các đối tượng tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước bằng đấu giá công khai (hay thông qua thị trường chứng khoán) để hình thành các CTCP (Dương Đức Chính, 2008). - 10 - Xét về mặt bản chất, CPH chính là phương thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển hình thái kinh doanh một chủ sở hữu Nhà nước trong DN thành CTCP với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình DN phù hợp với nền kinh tế thị trường và đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh hiện đại và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (Dương Đức Chính, 2008).
Xét về mặt pháp lý, CPH là việc chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần (Đỗ Thị Kim Tiên, 2014). Sau khi làm rõ khái niệm về DNNN, CPH, tác giả phân tích khái niệm về CPH DNNN. Kế thừa các khái niệm trên về DNNN và CPH, theo quan điểm tác giả thì “CPH DNNN là quá trình chuyển đổi sở hữu từ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ sang doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó có sở hữu của người lao động trong doanh nghiệp và sở hữu của các tổ chức, cá nhân khác, hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần”. Hay nói cách khác CPH DNNN là quá trình chuyển đổi từ hình thức DNNN sang hình thức CTCP bằng việc bán một phần hay toàn bộ giá trị của mình trong DNNN cho cán bộ quản lý và công nhân của DN hoặc các đối tượng tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước bằng đấu giá công khai.
Bản chất của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Theo cách hiểu thông thường, CPH DNNN có nghĩa là chia phần vốn của DNNN ra thành các phần, cá nhân, tổ chức có thể mua phần vốn đó và sẽ trở thành chủ sở hữu của công ty. Về thực chất, CPH DNNN là quá trình tư nhân hóa. Có thể xem xét bản chất của CPH DNNN dựa trên hai khía cạnh đó là bản chất pháp lý và khía cạnh chính trị (Nguyễn Hồng Hạnh, 2003). Về bản chất pháp lý, quá trình CPH DNNNlà thay đổi về chủ sở hữu.
Doanh nghiệp vốn từ một chủ sở hữu là nhà nước, sau khi được CPH sẽ chuyển sang doanh nghiệp có đa chủ sở hữu. Các cá nhân, tổ chức có năng lực tài chính có thể mua cổ phần đóng góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và cùng với nhà nước là đồng chủ sở hữu của doanh nghiệp. Các chủ sở hữu có quyền lợi và nghĩa vụ của mình tương đương với phần vốn góp đó, được hưởng lợi nhuận, chức vụ và - 11 - địa vị trong doanh nghiệp tương đương với tài sản của mình bỏ ra để đóng góp vào doanh nghiệp. Về khía cạnh chính trị, CPH DNNN không nhằm mục tiêu tư nhân hóa nền kinh tế, mà cổ phần hóa được coi là quá trình tư nhân hóa một phần.
Nhà nước vẫn giữ phần vốn góp nhất định, thậm chí là chi phối trong doanh nghiệp được cổ phần. Nếu như nhà nước vẫn nắm giữ chi phối đa phần vốn góp (trên 50%), thì bản chất doanh nghiệp đó vẫn được coi là DNNN, và nhà nước có quyền quyết định cao nhất nước nắm giữ một phần vốn góp (dưới 50%) thì nhà nước chỉ có quyền biểu quyết dựa trên số phần trăm vốn góp của mình. Có thể nói, CPH DNNN không nhằm xóa bỏ hoàn toàn sở hữu nhà nước trong các cơ sở kinh tế công mà chỉ giảm mức độ sở hữu. Quá trình CPH đưa tư nhân vào cùng làm chủ sở hữu, trong đó có cả người lao động từng làm trong doanh nghiệp, có thể có cá nhân, tổ chức là người nước ngoài… Đây chính là đồng chủ sở hữu cùng có tiếng nói quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp, đưa nền kinh tế của đất nước dần dần phát triển và hội nhập quốc tế theo đúng định hướng tiến lên xã hội chủ nghĩa.
Từ sự phân tích trên có thể thấy CPH DNNN là một chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Có thực hiện tốt quá trình CPH thì mới nhanh chóng thúc đẩy việc cải cách, đổi mới và phát triển DNNN. Đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc Từ khái niệm trên đây, ta có thể rút ra được đặc điểm của CPH là Thứ nhất, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước sang sở hữu nhiều thành phần, hay còn gọi là đa sở hữu. Doanh nghiệp được CPH sẽ không chỉ có một chủ sở hữu độc quyền quyết định mọi vấn đề về đầu tư, kinh doanh mà sẽ có các chủ sở hữu - Được gọi là các cổ đông cùng đóng góp vốn và đều có quyền tham gia vào quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyền và lợi ích của doanh nghiệp không chỉ là của một chủ sở hữu mà là của nhiều chủ sở hữu tham gia góp vốn đầu tư vào doanh nghiệp. - 12 - Thứ hai, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần. Đây là hình thức chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, liên quan đến nguồn luật điều chỉnh doanh nghiệp. Sau khi chuyển đổi, doanh nghiệp sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp năm 2005 theo hình thức công ty cổ phần chứ không nằm trong sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003.
Thứ ba, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thông qua hình thức nhà nước bán một phần hay toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. Thực tế, các DNNN được CPH lại dưới sự điều khiển và chỉ đạo của chính chủ sở hữu doanh nghiệp. Nếu như nhà nước muốn nắm giữ tỉ lệ phần trăm vốn góp lớn, thì các doanh nghiệp tư nhân chỉ còn lại phần mà Nhà nước cho phép tư nhân được đóng góp vốn. Mục tiêu và yêu cầu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc Kể từ khi Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 khóa IX ra đời, quá trình cổ phần hoá đã diễn ra ngày một sôi động và nhanh chóng trên quy mô cả nước.
Căn cứ tình hình và kết quả của công tác cổ phần hoá, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, Nghị định số 189/2013/NĐ-CP và Nghị định số 116/2015/NĐ-CP của Chính phủ về chuyển DN 100% VNN thành CTCP. Các Nghị định này đã cụ thể, khái quát hoá mục tiêu của việc chuyển DNNN thành CTCP như sau: Thứ nhất, thực hiện thoái vốn nhà nước, dần chuyển đổi những DN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, huy động vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ hai, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước, DN, nhà đầu tư và người lao động trong DN. - 13 - Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.
Thứ tư, Đảm bảo quản trị công ty trở nên hoạt động hiệu quả hơn Đó là những mục tiêu thiết thực cần được các DN chuyển đổi hết sức chú trọng để đạt được mục tiêu mà Đảng và Chính phủ đề ra có hiệu quả cao nhất. Việc thực hiện những mục tiêu này rất quan trọng trong việc phòng chống thất thoát tài sản nhà nước và việc thực hiện điều này mang tính cấp thiết. Sự cấp thiết được thể hiện trên các khía cạnh sau: Thứ nhất: CPH DNNN phù hợp với quy luật phát triển, xu hướng trên thế giới Như vậy, CTCP không phải ngẫu nhiên mà có mà là cả một quá trình phát triển chọn lọc, tìm tòi, thích ứng của các hình thái kinh tế. Nó ra đời cùng với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá, khi mà nhu cầu về vốn ngày càng lớn5.
Bên cạnh đó cạnh tranh trên thương trường ngày càng khốc liệt, đe dọa bị phá sản của các nhà đầu tư. CTCP đã đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường với những ưu điểm: có khả năng huy động vốn với quy mô lớn, dễ dàng di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác và giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư khi họ có thể phân tán tư bản của mình vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Với những ưu điểm như vậy, CTCP dần được phát triển rộng khắp.