Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 3: Tiến trình cổ phần hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội đạt ra từ quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa Chương 4: Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa 7 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình đã công bố liên quan đến nội dung luận án Cổ phần hóa DNNN là một chủ đề lớn đƣợc nhiều học giả và các nhà hoạch định chính sách quan tâm. Vì vậy, xung quanh vấn đề này đã có khá nhiều công trình khoa học đƣợc công bố, trong đó những công trình liên quan trực tiếp đến đề tài luận án có thể phân thành 3 nhóm: Nhóm 1, gồm các công trình nghiên cứu những vấn đề chung về CPH DNNN; Nhóm 2, gồm những công trình nghiên cứu về các vấn đề kinh tế-xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN và cách thức xử lý; Nhóm 3, gồm những bài viết về tiến trình CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Các công trình nghiên cứu về CPH DNNN nói chung + Những công trình nghiên cứu lý luận về cổ phần hóa DN N N Những vấn đề lý luận chung về DNNN và CPH DNNN đƣợc khá nhiều ngƣời, cả trong nƣớc và ngoài nƣớc, quan tâm nghiên cứu.
Tại Việt Nam, ngoài các cơ quan nghiên cứu chuyên ngành nhƣ Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng, các Viện nghiên cứu của Bộ, Ngành- là cơ quan quản lý trực tiếp doanh nghiệp nhà nƣớc, còn có nhiều chuyên gia kinh tế độc lập đã dày công nghiên cứu vấn đề này. Trong số hàng trăm công trình đã xuất bản mà NCS tiếp cận đƣợc, nhìn chung đều hƣớng tới một mục đích chung là tìm ra con đƣờng đƣa DNNN vào quĩ đạo vận động của kinh tế thị trƣờng, làm cho DNNN thích ứng đƣợc với cơ chế mới. Các tác giả Nguyễn Hữu Từ (1993), Ngô Quang Minh (2001), Nguyễn Cảnh Hoan (2002), Đỗ Thị Phi Hoài (2003), Lê Hồng Hạnh (2004), và nhiều ngƣời khác đều thống nhất quan điểm, cho rằng CPH DNNN là tất yếu khách quan trong quá trình chuyển nền kinh tế từ vận động theo cơ chế kế hoạch hóa 8 z tập trung sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam” (1998) đã chỉ rõ cơ sở khoa học của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc.
Từ việc trở lại quá khứ tìm kiếm nguồn gốc ra đời của công ty cổ phần, bằng sự diễn giải giản đơn, dễ hiểu đề tài đã làm sáng tỏ tính ƣu việt của công ty cổ phần mà các loại hình kinh tế khác không thể nào có đƣợc. Tuy nhiên, các tác giả cũng lƣu ý rằng, CTCP không phải hoàn toàn hiệu quả hơn DNNN, mà bản thân chúng cũng có những hạn chế nhất định. Một số tác giả đƣa ra vấn đề có tính lý luận quan trọng nhƣng hiện đang có những ý kiến khác nhau, là nên gọi quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần là cổ phần hoá hay tƣ nhân hoá? Các tác giả của đề tài trên khẳng định, rằng không thể coi các doanh nghiệp có thành phần Nhà nƣớc (tuy mức độ khác nhau) nhƣ xí nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, hay công ty trách nhiệm hữu hạn. là tƣ nhân, vì cho dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, trong công ty cổ phần có yếu tố Nhà nƣớc.
Theo họ, nếu Nhà nƣớc- ngƣời đại diện cho toàn dân tham gia, mà lại coi là tƣ nhân thì sẽ là điều không hiểu nổi. Tƣơng tự nhƣ vậy, các vấn đề nhƣ: cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc có làm chệch hƣớng XHCN không?”; lợi ích của Nhà nƣớc và của ngƣời lao động sẽ nhƣ thế nào? hay công ty cổ phần hoạt động có hiệu quả hơn doanh nghiệp Nhà nƣớc không?. cũng đƣợc bàn tới khá nhiều trong các công trình đã công bố. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều có chung một câu trả lời là: CPH DNNN không hề làm chệch hƣớng xã hội chủ nghĩa; các doanh nghiệp nhà nƣớc sau khi cổ phần hoá đều hoạt động có hiệu quả hơn, thể hiện là các chỉ tiêu về doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của ngƣời lao động, lợi tức cổ phần đều tăng lên so với trƣớc.
Trên cơ sở thực tiễn đó, kết luận đƣợc rút ra là, khi chuyển doanh nghiệp nhà nƣớc thành công ty cổ phần thì nếu có mất chỉ “mất” đi tác phong quan liêu, cửa quyền và sự tham nhũng, lãng phí. mà 9 z thôi, còn cái đƣợc cơ bản và lâu dài là lợi ích của cả Nhà nƣớc, tập thể và ngƣời lao động đều tăng lên. Đó là vì, mặc dù công ty cổ phần có cấu trúc khá phức tạp, nhƣng do tách bạch quyền sở hữu với quyền kinh doanh, chuvên môn hoá sản xuất nên công ty cổ phần đạt hiệu quả cao hơn các hình thức khác, kể cả doanh nghiệp tƣ nhân, công ty TNHH và doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc. Vì vậy, việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần là hợp quy luật xã hội hoá nguổn vốn đầu tƣ và kinh doanh, là xu thế tất yếu khách quan ở nƣớc ta, và cái đƣợc sẽ nhiều hơn cái mất.
Một số công trình đề cập cơ sở thực tiễn của việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc. Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng (1994), Bộ Tài chính (1998), và Bùi Quốc Anh (2009), khi phân tích luận cứ khoa học của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam đều khẳng định rằng: sự thay đổi thể chế kinh tế đòi hỏi phải cổ phần hoá, vì các thể chế kinh tế, lần lƣợt đi từ kinh tế thị trƣờng tự do đến kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện tại là kinh tế hỗn hợp. Kinh tế hỗn hợp ra đời là cơ sở cho sự xuất hiện và phát triển công ty cổ phần và công ty cổ phần chính là hiện thân bậc cao của kinh tế hỗn hợp. Hay nói cách khác, so với các loại hình doanh nghiệp khác, công ty cổ phần có nhiều ƣu điểm nhƣ khả năng huy động vốn với quy mô lớn cho đầu tƣ phát triển; mục tiêu của những ngƣời góp vốn thống nhất; sự liên tục và không hạn định về thời gian hoạt động; phƣơng thức quản lý khoa học chặt chẽ; khả năng phân tán rủi ro cao.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc là phù hợp với chủ trƣơng phát triển kinh tế của các quốc gia, kể cả nƣớc ta. Đối với các nƣớc phát triển đó là thay đổi theo hƣớng mở rộng hơn sở hữu cộng đồng, giảm bớt tỷ trọng sở hữu Nhà nƣớc và sở hữu tập tập thể. Đối với các nƣớc đang phát triển và đặc biệt là những nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi, đây là vấn đề quan trọng, nhạy cảm về chính trị. Một số khác lại khẳng định: cổ phần hoá là một giải pháp tài chính quan trọng hiện nay, góp phần giải quyết khó khăn về vốn từng bƣớc nâng 10 z cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các DNNN; đồng thời tạo điều kiện để Nhà nƣớc tập trung nguồn lực cho sự phát triển các lĩnh vực khác của nền kinh tế.
+ Những công trình nghiên cứu thực tiễn cổ phần hóa DN N N Đề tài NCKH cấp Bộ, do Ngô Quang Minh làm chủ nhiệm (2001) đã đƣa ra kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới về vấn đề CPH DNNN và phân tích tính khả thi của việc áp dụng kinh nghiệm đó vào điều kiện Việt Nam. Đánh giá tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nƣớc, khảo sát tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nƣớc đã cổ phần hóa, trên cơ sở đó đề tài đƣa ra một số quan điểm định hƣớng và giải pháp chung nhất mang tính chiến lƣợc cho sự phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc trong thời gian tiếp theo. Nhiều luận án tiến sĩ kinh tế đã đƣợc bảo vệ đã tiếp cận quá trình CPH DNNN dƣới các góc độ khác nhau. Luận án của Nghiên cứu sinh Trần Hồng Thái, với đề tài “Các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả tiến trình CPH DNNN” (2001) đã tập trung làm rõ: quá trình phát triển của kinh tế cổ phần và các loại hình doanh nghiệp mang tính cổ phần, khẳng định quá trình phát triển này có tính quy luật.
Qua nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của hệ thống xí nghiệp quốc doanh, “mổ xẻ” thực trạng hệ thống DNNN, luận án khẳng định nguyên nhân làm chậm tiến độ CPH là do “vai trò điều tiết của nhà nƣớc và cơ chế chính sách”. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm thúc đẩy thực hiện có hiệu quả tiến trình CPH DNNN giai đoạn 2001 - 2010. Theo dòng tƣ duy đó, Luận án Tiến sĩ với đề tài: “Tiếp tục đẩy mạnh quá trình CPH DNNN ở Việt Nam giai đoạn đến năm 2010” (2003) của Nghiên cứu sinh Đỗ Thị Phi Hoài đã đƣa ra cái nhìn tổng thể về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam sau 10 năm thực hiện (1992-2002); phân tích những khó khăn, vƣớng mắc cần tháo gỡ và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy quá trình CPH DNNN trong thời gian đến năm 2010. 11 z Đề tài nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Hoan (2002) đã đề cập đến vấn đề thể chế tài chính trong tiến trình CPH DNNN ở Việt Nam.
Đề tài đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về mối quan hệ của thể chế tài chính đối với cổ phần hóa DNNN, trong đó đã làm rõ vai trò và ý nghĩa của việc xác định một thể chế tài chính phù hợp trong cổ phần hóa DNNN. Có một số công trình khoa học nghiên cứu cả doanh nghiệp nhà nƣớc ở các quốc gia trên thế giới và xu thế cải cách doanh nghiệp nhà tại các quốc gia đó để rút ra bài học bổ ích cho Việt Nam về vấn đề này.