Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chính trị với đề tài "Những vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trịnh Văn Súy dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phí Mạnh Hồng, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 (Chuyên ngành: Kinh tế chính trị, Mã số: 62.01).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kể từ đường lối Đổi Mới năm 1986, nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong tiến trình này, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả hoạt động, chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ. Đầu thập niên 1990, Đảng và Nhà nước chủ trương cổ phần hóa (CPH) DNNN nhằm chuyển đổi cơ cấu sở hữu, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả toàn nền kinh tế.

Sau hơn 20 năm triển khai, nhiều chỉ tiêu tài chính và thu nhập người lao động tại các doanh nghiệp sau CPH đã có cải thiện. Tuy nhiên, tiến độ chung còn chậm, khu vực DNNN vẫn chiếm tỷ trọng lớn và nhiều doanh nghiệp sau CPH gặp khó khăn trong hoạt động. Tại tỉnh Thanh Hóa, tính đến ngày 31/12/2014, địa phương đã thực hiện CPH được 98 doanh nghiệp (gồm 24 doanh nghiệp bộ phận). Mặc dù đa số doanh nghiệp sau chuyển đổi có chuyển biến, tiến trình CPH tại địa bàn vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: xác định giá trị doanh nghiệp chưa hợp lý, lúng túng trong chiến lược kinh doanh, nguy cơ thất thoát tài sản công, vai trò của người lao động chưa được đảm bảo đầy đủ, cơ cấu sở hữu thiếu minh bạch và xung đột lợi ích nhóm bắt đầu phát sinh. Những vấn đề kinh tế - xã hội (KT-XH) tiêu cực này đòi hỏi phải được nghiên cứu, nhận diện nguyên nhân dưới góc độ kinh tế chính trị để đề xuất giải pháp xử lý.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN ở tỉnh Thanh Hóa, xác định nguyên nhân của tình trạng này, từ đó đề xuất các giải pháp xử lý nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả tiến trình CPH trên địa bàn tỉnh đến năm 2020.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, chỉ ra các kết quả đã đạt được và các vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
    2. Xây dựng khung khổ lý thuyết về CPH DNNN và các vấn đề KT-XH thường nảy sinh trong quá trình chuyển đổi.
    3. Khảo cứu kinh nghiệm xử lý các vấn đề KT-XH tiêu cực trong CPH DNNN tại một số địa phương để rút ra bài học cho Thanh Hóa.
    4. Phân tích, đánh giá thực trạng các vấn đề KT-XH nảy sinh trong CPH DNNN tại tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 1998–2014, chỉ rõ kết quả đạt được và hạn chế tồn tại.
    5. Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp xử lý các vấn đề KT-XH nảy sinh trong quá trình CPH DNNN tại Thanh Hóa giai đoạn đến năm 2020.
  • Câu hỏi nghiên cứu:
    1. Quá trình CPH DNNN thường làm nảy sinh các vấn đề kinh tế - xã hội nào? Căn nguyên sâu xa có tính quy luật chi phối sự nảy sinh các vấn đề này là gì?
    2. Những vấn đề đó bộc lộ, thể hiện như thế nào trong quá trình CPH DNNN ở Thanh Hóa?
    3. Cần có các giải pháp gì để xử lý hiệu quả các vấn đề trên nhằm đẩy nhanh tiến độ CPH và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN sau CPH trên địa bàn tỉnh?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình CPH DNNN dưới góc độ Kinh tế chính trị, tức là xem xét các vấn đề như sự phản chiếu của các quan hệ lợi ích kinh tế, gắn với môi trường thể chế, chính sách và vai trò quản lý của nhà nước.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề KT-XH tiêu cực phát sinh từ xung đột lợi ích giữa các chủ thể liên quan trong và sau quá trình CPH; không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật thuần túy của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Tỉnh Thanh Hóa; kết hợp khảo cứu so sánh với một số địa phương khác như tỉnh Thừa Thiên - Huế.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1998 (thời điểm Thanh Hóa bắt đầu triển khai CPH DNNN) đến năm 2014; các giải pháp định hướng đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại các công trình đã công bố trong và ngoài nước thành 3 nhóm nghiên cứu chính:

Các nhóm công trình nghiên cứu trước

  1. Nhóm nghiên cứu lý luận và thực tiễn chung về CPH DNNN:
    • Lý luận về tính tất yếu của CPH: Nguyễn Hữu Từ (1993), Ngô Quang Minh (2001), Nguyễn Cảnh Hoan (2002), Đỗ Thị Phi Hoài (2003), Lê Hồng Hạnh (2004) khẳng định CPH là tất yếu khách quan khi chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đề tài cấp Bộ (1998) của Ban Kinh tế Trung ương luận giải tính ưu việt của công ty cổ phần (CTCP) và làm rõ bản chất giữa CPH và tư nhân hóa.
    • Thể chế và thực tiễn chuyển đổi: Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (1994), Bộ Tài chính (1998), Bùi Quốc Anh (2009) phân tích sự thay đổi thể chế kinh tế dẫn dắt sự ra đời của CTCP; Trần Hồng Thái (2001) chỉ ra nguyên nhân chậm CPH do vai trò điều tiết và chính sách; Đỗ Thị Phi Hoài (2003) khảo sát 10 năm CPH (1992–2002); Tô Huy Rứa (2006) tiếp cận CPH dưới góc độ phát triển bền vững; Landalt (Viện Công nghệ Châu Á - AIT) khảo sát thực tiễn tại TP. Hồ Chí Minh; Hồ Sỹ Hùng (2012), Nguyễn Huy Oánh và Lê Văn Bằng (2006), Lê Đình Vinh và Ngô Đăng Thành (2010) tập trung nghiên cứu mô hình Công ty Mẹ - Con trong tái cấu trúc các tổng công ty nhà nước.
    • Kinh nghiệm quốc tế: Lin, J. phân tích bài học từ liệu pháp sốc tại Liên bang Nga, tiến trình tư nhân hóa ở Ba Lan và các bước đi thận trọng của Trung Quốc; Trương Văn Bân chủ biên công trình về cải cách toàn diện DNNN tại Trung Quốc.
  2. Nhóm nghiên cứu về các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong và sau CPH DNNN:
    • Trần Ngọc Bút (1998), Trần Thị Minh Ngọc (2008), Phạm Ngọc Linh (2009), các báo cáo hội thảo của Trần Tiến Cường (2001) và Lê Hoàng Hải (2001) chỉ ra các bất cập về định giá doanh nghiệp, giải quyết nợ tồn đọng, chính sách cho người lao động dôi dư và quản lý tài chính hậu CPH.
    • Nguyễn Thị Kim Phượng (2001) nghiên cứu yếu tố tâm lý xã hội cản trở CPH; Chu Đức Hoài (2001) nghiên cứu chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động; Phạm Quang Huy (2002) phân tích tác động của thị trường chứng khoán; Nguyễn Lê Quý Hiển (2012) phân tích sự biến đổi quan hệ sở hữu từ đơn nhất sang đa chủ thể.
  3. Nhóm nghiên cứu về CPH DNNN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa:
    • Kỷ yếu hội thảo của Ban Kinh tế Tỉnh ủy Thanh Hóa (1998), Hội thảo về doanh nghiệp nhỏ và vừa của Trường Đại học Hồng Đức (2009); các bài báo phân tích thực tiễn tại các đơn vị cụ thể (Công ty CP Sông Đà 25, Công ty CP Xi măng Bỉm Sơn, Công ty CP Dược - Vật tư y tế Thanh Hóa, Công ty CP Mía đường Lam Sơn) của các tác giả Đỗ Gia Ngân (2010), Trần Đoàn Viên (2011, 2012), Phạm Ngọc (2013), Lê Hà (2013), Tùng Dương (2014), Nguyễn Xuân (2015).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  • Thứ nhất: Nhận thức lý luận về bản chất của CPH DNNN, mối quan hệ giữa CPH và tư nhân hóa, cũng như tỷ lệ nắm giữ vốn tối ưu của Nhà nước tại các doanh nghiệp sau CPH vẫn chưa có sự thống nhất cao.
  • Thứ hai: Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu dưới góc độ kinh tế chính trị về các vấn đề KT-XH tiêu cực nảy sinh từ xung đột lợi ích giữa các chủ thể trong tiến trình CPH tại một địa bàn cấp tỉnh cụ thể như Thanh Hóa.
  • Thứ ba: Các nghiên cứu đi trước đa phần dừng lại ở dữ liệu trước năm 2010; các vấn đề KT-XH phát sinh trong giai đoạn tái cơ cấu 2010–2014 chưa được cập nhật và phân tích thấu đáo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

  • Bản chất DNNN trong nền kinh tế thị trường: Doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc giữ cổ phần chi phối, có chức năng sản xuất hàng hóa/dịch vụ cung ứng cho thị trường, vừa tìm kiếm lợi nhuận vừa thực hiện các mục tiêu chính sách xã hội.
  • Nguyên nhân hạn chế của DNNN:
    • Lý thuyết Lựa chọn công cộng (Public Choice Theory) & Định lý Bất khả của Kenneth Arrow (Arrow's Impossibility Theorem): Việc đưa ra quyết định tập thể về phân bổ và sử dụng tài sản công luôn tiềm ẩn nguy cơ thiếu hiệu quả do khó dung hòa ý chí cá nhân thành quyết định tối ưu chung.
    • Lý thuyết Người ủy quyền – Người đại diện (Principal-Agent Theory) & Bất cân xứng thông tin: Sự phân tách giữa chủ sở hữu (toàn dân/nhà nước ủy quyền) và người điều hành trực tiếp (giám đốc DNNN) tạo ra nguy cơ lạm quyền, trục lợi cá nhân do chi phí giám sát cao.
    • Vấn đề "Kẻ ăn không" (Free-rider problem): Tâm lý ỷ lại trong việc giám sát tài sản công dẫn đến tình trạng tài sản nhà nước bị coi là "vô chủ", "phi cá nhân hóa".
    • Môi trường hoạt động: Thiếu áp lực cạnh tranh, nhận trợ cấp ngầm, thiếu chế tài phá sản nghiêm ngặt, hệ thống đãi ngộ và kỷ luật lao động kém linh hoạt, sự đan xen giữa mục tiêu kinh doanh và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
  • Thực chất của CPH DNNN: Quá trình chuyển hóa tài sản thuộc sở hữu toàn dân thành tài sản có chủ sở hữu cá nhân xác định, tái cấu trúc quan hệ giữa khu vực công và khu vực tư, đưa Nhà nước về đúng vị trí cơ quan thiết lập thể chế ("trọng tài") thay vì trực tiếp điều hành kinh doanh ("cầu thủ").
  • Xung đột lợi ích – Căn nguyên sâu xa: CPH làm dịch chuyển lợi ích giữa các chủ thể: Nhà nước, cán bộ quản lý cơ quan chủ quản, lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động và các nhà đầu tư bên ngoài. Nhóm bị suy giảm lợi ích từ cơ chế bao cấp cũ có xu hướng trì hoãn hoặc can thiệp làm sai lệch tiến trình định giá, xử lý nợ và phân chia cổ phần.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Sử dụng phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử của kinh tế chính trị Mác - Lênin để phân tích các quan hệ sở hữu và xung đột lợi ích kinh tế trong điều kiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường.
  • Phương pháp cụ thể:
    • Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Loại bỏ các yếu tố ngẫu nhiên, cá biệt để nhận diện quy luật vận động của quan hệ lợi ích và sở hữu.
    • Phương pháp kết hợp lôgic và lịch sử: Khảo sát tiến trình CPH theo các giai đoạn thực tế (1998–2014) gắn với mạch lôgic về sự biến đổi cơ cấu kinh tế.
    • Phương pháp nghiên cứu tình huống, phân tích – tổng hợp: Đánh giá thực trạng tại các nhóm doanh nghiệp và tổng hợp thành 6 vấn đề KT-XH điển hình.
    • Phương pháp so sánh: Đối chiếu số liệu CPH giữa các thời kỳ tại Thanh Hóa và so sánh với tỉnh Thừa Thiên - Huế.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo định kỳ của Tỉnh ủy Thanh Hóa, UBND tỉnh Thanh Hóa, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa, cùng các số liệu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 1995–2014.

Nội dung chính theo từng chương

Chương Tên chương trong văn bản Nội dung trọng tâm và kết quả phân tích
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Phân tích 3 nhóm công trình trong nước và quốc tế; hệ thống hóa 5 kết luận chính về CPH; chỉ ra 3 khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết.
Chương 2 Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn Luận giải lý thuyết sở hữu công, mô hình CTCP, xung đột lợi ích; phân tích các nhân tố ảnh hưởng; tổng kết kinh nghiệm CPH tại tỉnh Thừa Thiên - Huế (Bảng 2.1, Bảng 2.2).
Chương 3 Tiến trình cổ phần hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra từ quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa Trình bày bối cảnh KT-XH và thực trạng DNNN Thanh Hóa (Bảng 3.1, 3.2, 3.3, 3.4); đánh giá kết quả 98 DN CPH đến cuối 2014; phân tích 6 vấn đề KT-XH nảy sinh và 4 nhóm nguyên nhân chi phối.
Chương 4 Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa Xác lập 3 quan điểm chỉ đạo; đề xuất 5 nhóm giải pháp quản trị, thể chế, định giá và bảo đảm an sinh tại địa phương đến năm 2020; kiến nghị các cơ quan Trung ương.

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này điểm luận hệ thống các tài liệu nghiên cứu về CPH DNNN theo 3 nhóm: các vấn đề chung về CPH; các vấn đề KT-XH nảy sinh; và thực tiễn CPH tại Thanh Hóa. Tác giả chỉ ra rằng đa số công trình khẳng định tính ưu việt của mô hình CTCP về khả năng huy động vốn, phân tán rủi ro và tăng cường tính tự chủ. Tuy nhiên, các nghiên cứu chưa đi sâu làm rõ cơ chế xung đột lợi ích dưới góc nhìn kinh tế chính trị và thiếu vắng các nghiên cứu cập nhật cho giai đoạn tái cơ cấu sau năm 2010 tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa.

Chương 2: Các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường và cắt nghĩa căn nguyên sâu xa của các vấn đề KT-XH nảy sinh từ sự chuyển đổi quan hệ sở hữu.

  • Khung phân tích lợi ích: Sự chuyển đổi sở hữu công sang đa sở hữu làm thay đổi căn bản phân phối lợi ích kinh tế, tạo ra sự phản kháng từ những người có quyền lợi gắn liền với cơ chế bao cấp cũ.
  • Yếu tố tác động: Môi trường cạnh tranh, khung khổ pháp lý, mức độ minh bạch tài chính, các thiết chế hỗ trợ thị trường và nhận thức xã hội.
  • Bài học kinh nghiệm thực tiễn: Khảo sát kinh nghiệm CPH tại một số địa phương, tiêu biểu là tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2010. Luận án chỉ ra bài học về việc minh bạch hóa thông tin tài chính, lựa chọn đúng phương pháp định giá và ban hành chính sách giải quyết việc làm cho lao động dôi dư để hạn chế tranh chấp.

Chương 3: Tiến trình cổ phần hóa và những vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra từ quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 trình bày bức tranh tổng thể về CPH DNNN tại Thanh Hóa qua các giai đoạn từ năm 1998 đến ngày 31/12/2014, với tổng số 98 doanh nghiệp đã CPH (trong đó có 24 doanh nghiệp bộ phận).

  • Đặc điểm bối cảnh và DNNN Thanh Hóa trước CPH: Luận án phân tích bối cảnh kinh tế địa phương thông qua các dữ liệu thực tế: cơ cấu kinh tế (Bảng 3.1), tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006–2012 (Bảng 3.2), thu nhập bình quân đầu người/tháng giai đoạn 2002–2012 (Bảng 3.3). Đáng chú ý, số liệu lịch sử tại thời điểm 1/1/1995 (Bảng 3.4) cho thấy nhiều DNNN của tỉnh rơi vào tình trạng kinh doanh thua lỗ và tồn đọng các khoản nợ khó đòi lớn, tạo áp lực tái cơ cấu.
  • Sáu vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực nảy sinh tại Thanh Hóa:
    1. Tâm lý chần chừ, e ngại, ngăn trở tiến trình CPH: Xuất phát từ tâm lý sợ mất quyền lợi, mất vị trí quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và nỗi lo mất việc làm của người lao động.
    2. Vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp: Việc áp dụng phương pháp định giá tài sản còn xơ cứng, chưa tính đúng giá trị quyền sử dụng đất và thương hiệu, dẫn đến nguy cơ làm thất thoát vốn nhà nước.
    3. Đánh giá và xử lý các khoản nợ: Tồn đọng các khoản nợ khó đòi, nợ bảo hiểm xã hội kéo dài chưa được xử lý dứt điểm trước khi bàn giao sang công ty cổ phần.
    4. Sắp xếp lại lao động và giải quyết lao động dôi dư: Tình trạng cắt giảm lao động sau CPH làm nảy sinh mâu thuẫn quyền lợi; nguồn kinh phí hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề và trợ cấp thôi việc còn eo hẹp.
    5. Chuyển đổi cấu trúc sở hữu và quan hệ giữa các nhóm cổ đông: Xuất hiện hiện tượng nhóm cổ đông lớn hoặc lãnh đạo thâu tóm cổ phần ưu đãi của người lao động, làm suy giảm quyền đại diện của người lao động trong hội đồng quản trị.
    6. Quản lý nhà nước và sự phân biệt đối xử sau CPH: Công tác giám sát phần vốn nhà nước còn lại chưa chặt chẽ; vẫn còn sự đối xử thiếu bình đẳng giữa doanh nghiệp sau CPH với các DNNN còn lại về tiếp cận tài nguyên và cơ hội kinh doanh.
  • Bốn yếu tố nguyên nhân ảnh hưởng: Cơ chế, chính sách CPH còn thiếu đồng bộ; công tác quản lý nhà nước tại địa phương chưa theo kịp thực tiễn; các thiết chế hỗ trợ thị trường (tư vấn định giá, thị trường chứng khoán địa phương) còn non yếu; công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức chưa đạt yêu cầu.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở tỉnh Thanh Hóa

Tác giả đề xuất phương hướng xử lý các vấn đề tồn đọng trong giai đoạn đến năm 2020:

  • Quan điểm chỉ đạo: CPH phải gắn liền với tái cơ cấu kinh tế địa phương; xử lý hài hòa quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động; coi trọng tính công khai, minh bạch và nguyên tắc thị trường.
  • Năm nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Đổi mới phương pháp định giá doanh nghiệp: Kết hợp các phương pháp hiện đại (như chiết khấu dòng tiền - DCF), nâng cao kỹ năng chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ thẩm định giá.
    2. Minh bạch hóa tài chính và quyền sở hữu nhà nước: Công khai thông tin tài chính trước CPH, quản lý chặt chẽ phần vốn nhà nước thông qua người đại diện vốn chuyên nghiệp (chuyển giao về SCIC theo quy định).
    3. Tách bạch chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu: Chấm dứt tình trạng cơ quan hành chính can thiệp trực tiếp vào hoạt động điều hành của CTCP.
    4. Hoàn thiện môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người lao động: Đảm bảo sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; giám sát việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, thỏa ước lao động tập thể và hỗ trợ người lao động dôi dư.
    5. Tăng cường vai trò của chính quyền địa phương: Nâng cao năng lực và trách nhiệm của Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh Thanh Hóa trong việc đôn đốc, giám sát tiến độ CPH.
  • Kiến nghị vĩ mô: Đề nghị Chính phủ và các Bộ/ngành hoàn thiện khung pháp lý về chuyển nhượng vốn, xử lý đất đai và bổ sung nguồn lực cho Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận giải và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận kinh tế chính trị về các vấn đề KT-XH nảy sinh trong CPH DNNN, chỉ rõ sự xung đột lợi ích giữa các nhóm chủ thể gắn với chuyển đổi quan hệ sở hữu là nguyên nhân sâu xa chi phối toàn bộ tiến trình.
  • Làm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa mức độ phát triển của thể chế kinh tế thị trường, cách định vị vai trò can thiệp của Nhà nước với khả năng phòng ngừa và giải quyết các xung đột KT-XH trong CPH.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình CPH DNNN tại tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 15 năm (1998–2014), cung cấp bức tranh số liệu xác thực về 98 doanh nghiệp CPH.
  • Nhận diện, phân loại và phân tích sâu sắc 6 vấn đề KT-XH tiêu cực phát sinh cụ thể trên địa bàn tỉnh (tâm lý e ngại, định giá sai lệch, nợ xấu tồn đọng, lao động dôi dư, thâu tóm sở hữu nội bộ, phân biệt đối xử sau CPH).
  • Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp và kiến nghị có tính khả thi nhằm xử lý các vướng mắc KT-XH, hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả CPH DNNN tại Thanh Hóa đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi và dữ liệu: Luận án tập trung khảo sát chủ yếu tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa, việc khảo cứu kinh nghiệm ngoại tỉnh chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp (như tỉnh Thừa Thiên - Huế). Dữ liệu nghiên cứu kết thúc tại thời điểm 31/12/2014, chưa phản ánh được các biến động chính sách và kết quả CPH giai đoạn sau năm 2015.
  • Hạn chế về cách tiếp cận: Công trình tiếp cận dưới góc độ Kinh tế chính trị (quan hệ sở hữu, quan hệ lợi ích, chính sách thể chế), do đó không đi sâu giải quyết các bài toán kỹ thuật tài chính chi tiết hay quản trị tác nghiệp nội bộ tại từng doanh nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả hoạt động dài hạn của các doanh nghiệp sau CPH tại Thanh Hóa trong giai đoạn 2015–2020; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã CPH nhưng Nhà nước còn nắm giữ cổ phần chi phối.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Là tài liệu tham khảo cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Thanh Hóa, Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng kế hoạch sắp xếp doanh nghiệp, thẩm định phương án CPH và hoàn thiện chính sách an sinh cho người lao động.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế khi nghiên cứu về kinh tế chuyển đổi, tái cơ cấu sở hữu và lý thuyết lựa chọn công cộng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định nguyên nhân sâu xa dẫn đến các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong CPH DNNN là gì?

Căn nguyên sâu xa là sự xung đột lợi ích giữa các nhóm chủ thể kinh tế liên quan (Nhà nước, cơ quan chủ quản, ban lãnh đạo doanh nghiệp, người lao động, nhà đầu tư) khi chuyển đổi từ sở hữu công ("vô chủ", "phi cá nhân hóa") sang sở hữu xác định của các cổ đông. Những người bị suy giảm quyền lợi từ việc chấm dứt cơ chế bao cấp có xu hướng tạo ra rào cản hoặc làm sai lệch tiến trình CPH.

2. Tính đến ngày 31/12/2014, tỉnh Thanh Hóa đã CPH được bao nhiêu doanh nghiệp?

Tính đến ngày 31/12/2014, tỉnh Thanh Hóa đã hoàn thành CPH được 98 doanh nghiệp, trong đó bao gồm 24 doanh nghiệp bộ phận.

3. Luận án chỉ ra những vấn đề kinh tế - xã hội tiêu cực cụ thể nào tại Thanh Hóa?

Luận án chỉ ra 6 vấn đề chính: (1) Tâm lý chần chừ, e ngại, cản trở CPH; (2) Sai lệch trong xác định giá trị doanh nghiệp gây nguy cơ thất thoát tài sản nhà nước; (3) Khó khăn trong đánh giá và xử lý nợ tồn đọng; (4) Vấn đề sắp xếp lại lao động và giải quyết lao động dôi dư; (5) Chuyển đổi cơ cấu sở hữu thiếu minh bạch và tranh chấp giữa các nhóm cổ đông; (6) Bất cập trong quản lý nhà nước và sự phân biệt đối xử với doanh nghiệp sau CPH.

4. Luận án đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm nào để giải quyết các vấn đề trên?

Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Đổi mới phương pháp định giá tài sản và nâng cao đạo đức cán bộ thẩm định; (2) Minh bạch hóa tài chính và quản lý vốn nhà nước qua SCIC; (3) Tách bạch chức năng quản lý nhà nước và quyền chủ sở hữu vốn; (4) Hoàn thiện môi trường kinh doanh bình đẳng và bảo vệ quyền lợi người lao động; (5) Tăng cường vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và Ban Đổi mới doanh nghiệp tỉnh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trịnh Văn Súy đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu thông qua việc làm rõ khung lý thuyết kinh tế chính trị về xung đột lợi ích trong chuyển đổi sở hữu DNNN và đánh giá thực tiễn 15 năm CPH tại tỉnh Thanh Hóa (1998–2014). Tác giả đã chỉ ra 6 nhóm vấn đề KT-XH tiêu cực nảy sinh từ thực tế địa phương, làm rõ các nguyên nhân thể chế và quản lý. Hệ thống quan điểm và 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp tại tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn đến năm 2020.