Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam từng chiếm giữ tới 85% tổng số vốn của toàn bộ nền kinh tế, song hiệu quả hoạt động chưa tương xứng khi có chưa đầy 50% đơn vị kinh doanh có lãi và chỉ khoảng 30% duy trì được lợi nhuận dài hạn. Trong bối cảnh đó, tiến trình cổ phần hóa trở thành đòn bẩy đột phá nhằm tái cấu trúc nền kinh tế. Tính đến hết năm 2004, cả nước đã hoàn thành cổ phần hóa 2.247 doanh nghiệp nhà nước, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương chuyển đổi từ sở hữu đơn nhất sang đa sở hữu.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là việc áp dụng khung pháp lý cổ phần hóa chung vào khối doanh nghiệp nhà nước thuộc lực lượng vũ trang còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Do tính chất đặc thù kết hợp giữa nhiệm vụ quốc phòng an ninh và hoạt động sản xuất kinh tế, các quy định pháp luật hiện hành thường xuyên phát sinh xung đột, thiếu tính tương thích khi triển khai trên thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm sáng tỏ bản chất pháp lý, đánh giá thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành cổ phần hóa tại các đơn vị kinh tế quân đội, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế đồng bộ.

Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình cải cách doanh nghiệp từ năm 1990 đến năm 2005 trên phạm vi cả nước, lấy trọng tâm khảo sát tại các đơn vị do Bộ Quốc phòng quản lý. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp luận cứ khoa học sắc bén giúp đẩy nhanh tiến độ tái sắp xếp 166 doanh nghiệp quân đội, tối ưu hóa nguồn lực công và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp của hai lý thuyết kinh tế - pháp lý hiện đại: Lý thuyết quyền tài sản (Property Rights Theory) và Lý thuyết quản trị công ty (Corporate Governance Theory). Lý thuyết quyền tài sản luận giải sự cần thiết phải phân định rõ ràng các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với vốn nhà nước, xóa bỏ tình trạng sở hữu vô chủ trừu tượng. Lý thuyết quản trị công ty tạo cơ sở thiết lập cơ chế giám sát minh bạch, xác lập trách nhiệm tài chính hữu hạn và phân tách quyền sở hữu với quyền điều hành chuyên nghiệp.

Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  1. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Quá trình chuyển đổi hình thức pháp lý từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần, huy động thêm nguồn vốn xã hội hoặc bán bớt phần vốn công nhưng không làm mất đi định hướng phát triển của Nhà nước.
  2. Tư nhân hóa: Sự chuyển giao toàn bộ quyền sở hữu tư liệu sản xuất từ khu vực công sang khu vực tư nhân, làm chấm dứt hoàn toàn sự hiện diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
  3. Doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng: Loại hình tổ chức kinh tế đặc thù trong quân đội, thực hiện mục tiêu kép vừa sản xuất kinh doanh phục vụ dân sinh thời bình, vừa sẵn sàng chuyển đổi thành lực lượng phục vụ chiến đấu khi có yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp phong phú, tổng hợp từ các nghị quyết của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ Quyết định 143/HĐBT năm 1990 đến Nghị định 187/2004/NĐ-CP, cùng các báo cáo chuyên đề của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp và Bộ Quốc phòng trong giai đoạn 1990 - 2005.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định có trọng tâm: Khảo sát tổng thể toàn bộ 305 doanh nghiệp quân đội ở thời điểm năm 1993, theo dõi biến động qua các mốc sắp xếp và chọn mẫu đại diện chuyên sâu gồm 17 đơn vị thuộc diện cổ phần hóa theo Quyết định 80/2003/QĐ-TTg và Văn bản 455/CP-ĐMDN.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn những mô hình đã triển khai thí điểm thực tế như Công ty Thuốc bảo vệ thực vật Nicotex, Công ty 77, Gốm sứ 51 Bát Tràng, Nhà máy Bao bì Vinh và Xí nghiệp Nhựa xốp Sao Mai. Phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp thống kê đối chiếu được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc chỉ ra các khoảng trống pháp lý, sự không tương thích giữa các quy định kinh tế thị trường và kỷ luật điều hành hành chính quân sự.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ cổ phần hóa có sự phân hóa sâu sắc qua 3 giai đoạn phát triển. Giai đoạn 1992 - 1996 chỉ cổ phần hóa được 5 doanh nghiệp; giai đoạn 1996 - 1998 đạt 123 đơn vị; giai đoạn 1999 - 2004 bùng nổ mạnh mẽ với 2.119 doanh nghiệp hoàn thành chuyển đổi. Tuy nhiên, khối quân đội triển khai rất chậm, đến cuối năm 2004 mới thực hiện cơ bản tại 5 đơn vị trong tổng số 17 cơ sở được Chính phủ phê duyệt.

Thứ hai, thực trạng năng lực tài chính và công nghệ của doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế. Thống kê cho thấy 72,5% doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 5 tỷ đồng, chỉ gần 20% doanh nghiệp sở hữu quy mô vốn trên 10 tỷ đồng. Trình độ công nghệ tại hầu hết đơn vị lạc hậu từ 3 đến 4 thế hệ so với khu vực, gây cản trở lớn khi tham gia đấu thầu cạnh tranh bình đẳng.

Thứ ba, nỗ lực tái cơ cấu nội bộ quân đội đạt được bước tiến lớn về tổ chức nhưng chưa đồng bộ về pháp lý. Toàn quân đã giảm mạnh đầu mối từ 305 đơn vị năm 1993 xuống còn 166 doanh nghiệp năm 2002, sáp nhập từ 12 Tổng công ty xuống còn 4 Tổng công ty lớn. Dẫu vậy, mô hình quản lý vẫn mang đậm dấu ấn bao cấp, nguồn vốn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách quốc phòng.

Thứ tư, bất cập lớn nhất nằm ở khâu định giá tài sản và xác định giá trị quyền sử dụng đất quốc phòng. Quy trình thẩm định phê duyệt kéo dài trung bình 12 đến 18 tháng đối với mỗi hồ sơ do thiếu quy chế phối hợp liên ngành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự chậm trễ bắt nguồn từ tư duy hành chính mệnh lệnh kéo dài, sự e ngại làm thất thoát tài sản nhà nước và khó khăn trong việc phân tách chức năng chỉ huy quân sự với quản trị kinh doanh. Khi so sánh với các công trình nghiên cứu cùng thời kỳ, nghiên cứu này chỉ rõ: Nếu các doanh nghiệp dân sự coi cổ phần hóa là phương thức tư nhân hóa từng phần để tối đa hóa lợi nhuận, thì doanh nghiệp quân đội bắt buộc phải bảo đảm yếu tố bí mật an ninh và duy trì năng lực sẵn sàng chiến đấu.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét mối tương quan này qua việc phân nhóm doanh nghiệp. Nếu biểu diễn trên biểu đồ cột so sánh tiến độ cổ phần hóa toàn quốc và quân đội giai đoạn 1992 - 2004, tỷ lệ chuyển đổi của khối quân đội luôn ở mức dưới 10% so với kế hoạch đề ra. Việc tổng hợp số liệu vào bảng phân loại 3 nhóm doanh nghiệp quân đội (doanh nghiệp quốc phòng, doanh nghiệp kinh tế - quốc phòng, doanh nghiệp kinh tế thuần túy) cho thấy chỉ có nhóm kinh tế thuần túy mới đủ điều kiện áp dụng triệt để Nghị định 187/2004/NĐ-CP.

Ý nghĩa của phát hiện này khẳng định việc áp dụng một khung pháp lý cào bằng giữa doanh nghiệp kinh tế thuần túy và doanh nghiệp lưỡng dụng quân sự là nguyên nhân chính làm triệt tiêu tính chủ động của người điều hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong quân đội, bốn nhóm giải pháp cụ thể cần được triển khai quyết liệt:

  1. Chuẩn hóa quy chế định giá tài sản và quyền sử dụng đất quốc phòng Chủ thể thực hiện: Liên bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Hành động: Ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế phân loại rõ ràng diện tích đất sử dụng thuần túy cho kinh tế và đất phục vụ nhiệm vụ quân sự dự bị. Mục tiêu cụ thể: Rút ngắn thời gian thẩm định giá trị doanh nghiệp xuống dưới 6 tháng/hồ sơ, hoàn thành định giá 100% diện tích đất chuyển đổi trước quý 4/2006.

  2. Áp dụng phương thức bán đấu giá công khai qua thị trường tài chính Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ đạo Cổ phần hóa Bộ Quốc phòng và các đơn vị thành viên. Hành động: Triệt để bãi bỏ cơ chế bán cổ phần khép kín nội bộ, chuyển sang đấu giá công khai qua các trung tâm giao dịch chứng khoán đối với 100% gói cổ phần có giá trị chào bán từ 10 tỷ đồng trở lên theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP. Mục tiêu cụ thể: Đạt tỷ lệ tối thiểu 20% vốn điều lệ bán cho các nhà đầu tư chiến lược ngoài quân đội trong giai đoạn 2006 - 2008.

  3. Đổi mới mô hình đại diện chủ sở hữu vốn và bộ máy quản trị Chủ thể thực hiện: Bộ Quốc phòng và Cục Kinh tế Quân đội. Hành động: Tách bạch tuyệt đối thẩm quyền quản lý hành chính quân sự khỏi quyền điều hành kinh doanh của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc công ty cổ phần; chuyển đổi vị trí người quản lý từ cơ chế phân công cán bộ sang cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước chuyên trách. Timeline: Hoàn tất chuyển đổi mô hình quản trị cho toàn bộ 166 doanh nghiệp quân đội trước năm 2007.

  4. Xây dựng chính sách an sinh đồng bộ cho người lao động dôi dư Chủ thể thực hiện: Bộ Quốc phòng phối hợp Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Hành động: Thiết lập Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp quân đội, trích tối thiểu 15% nguồn thu từ bán cổ phần để chi trả trợ cấp mất việc, đào tạo chuyển nghề và giải quyết chính sách bảo hiểm xã hội cho hơn 50.000 lao động quốc phòng. Mục tiêu: Bảo đảm 100% người lao động bị ảnh hưởng nhận đầy đủ quyền lợi chuyển đổi trong vòng 30 ngày kể từ khi có quyết định cổ phần hóa.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị chuyên khảo sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham mưu chính sách Lợi ích: Cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành luật chuyên ngành, xử lý hiệu quả điểm giao thoa giữa pháp luật doanh nghiệp và pháp luật quốc phòng.

  2. Ban chỉ đạo cổ phần hóa và lãnh đạo các doanh nghiệp quân đội Lợi ích: Nắm vững quy trình xử lý tài chính, phương pháp định giá tài sản phức tạp, cơ chế lựa chọn cổ đông chiến lược và các bước chuyển đổi quản trị sang mô hình công ty cổ phần mà không làm gián đoạn nhiệm vụ an ninh.

  3. Giảng viên, học viên và nhà nghiên cứu luật kinh tế Lợi ích: Khai thác kho tư liệu học thuật giá trị, bộ dữ liệu lịch sử chuẩn xác về tiến trình cổ phần hóa tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2005 và phương pháp tiếp cận đa ngành đối với loại hình kinh tế đặc thù.

  4. Nhà đầu tư chiến lược và cổ đông trên thị trường chứng khoán Lợi ích: Nhận diện chính xác khung pháp lý, tiềm năng kinh doanh cũng như các rủi ro thể chế khi tham gia góp vốn, mua cổ phần tại các doanh nghiệp có nguồn gốc từ lực lượng vũ trang.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất pháp lý của cổ phần hóa khác với tư nhân hóa như thế nào? Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi mô hình từ một chủ sang nhiều chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phần, trong đó Nhà nước vẫn có thể nắm giữ cổ phần chi phối. Ngược lại, tư nhân hóa chuyển giao triệt để toàn bộ tư liệu sản xuất sang tư nhân, làm triệt tiêu hoàn toàn sự hiện diện của kinh tế nhà nước tại doanh nghiệp.

Nghị định 187/2004/NĐ-CP mang lại bước đột phá nào về phương thức bán cổ phần? Nghị định 187/2004/NĐ-CP đã chính thức xóa bỏ cơ chế bán cổ phần ưu đãi theo giá sàn nội bộ, bắt buộc thực hiện bán đấu giá công khai theo giá thị trường. Quy định yêu cầu các gói cổ phần trên 10 tỷ đồng phải đấu giá qua trung tâm chứng khoán và dành tối thiểu 20% vốn điều lệ cho cổ đông bên ngoài.

Tại sao tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp quân đội giai đoạn 2000 - 2005 diễn ra chậm? Tiến độ chậm do tính chất đặc thù đan xen giữa mục tiêu kinh tế và nhiệm vụ an ninh bí mật quân sự. Bên cạnh đó, các vướng mắc phức tạp trong định giá quyền sử dụng đất quốc phòng và sự tồn tại của cơ chế bao cấp vốn khiến chỉ có 5 trên 17 cơ sở hoàn thành đúng hạn.

Xử lý quyền sử dụng đất quốc phòng khi cổ phần hóa doanh nghiệp được quy định ra sao? Căn cứ Luật Đất đai năm 2003 và Nghị định 187/2004/NĐ-CP, toàn bộ diện tích đất sử dụng kinh tế phải được rà soát, quy hoạch rõ ràng và tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa tùy theo hình thức giao đất có thu tiền hoặc thuê đất trả tiền định kỳ.

Người lao động trong doanh nghiệp quân đội cổ phần hóa được hưởng những chính sách gì? Người lao động được quyền mua cổ phần ưu đãi theo thâm niên công tác trong khu vực nhà nước với mức giảm 30% so với giá đấu bình quân. Trường hợp dôi dư do sắp xếp lại, người lao động được nhận trợ cấp mất việc và hỗ trợ đào tạo nghề từ Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ bản chất pháp lý của cổ phần hóa là giải pháp chuyển đổi sở hữu đa thành phần, củng cố hiệu quả kinh tế mà vẫn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
  2. Công trình phân tích bức tranh tổng thể về 2.247 doanh nghiệp cổ phần hóa toàn quốc, đồng thời đánh giá toàn diện kết quả sắp xếp 166 doanh nghiệp quân đội trong giai đoạn 1990 - 2005.
  3. Luận văn đã bóc tách chính xác những điểm nghẽn thể chế, trọng tâm là rào cản định giá tài sản, quản lý đất quốc phòng và cơ chế bao cấp tài chính kéo dài.
  4. Hệ thống giải pháp 4 trụ cột đã được đề xuất với lộ trình thực thi rõ ràng, gắn trách nhiệm trực tiếp cho từng bộ ngành và đơn vị quản trị.
  5. Đóng góp cốt lõi của đề tài mở ra hướng tiếp cận khoa học, chuẩn mực cho công tác lập pháp kinh tế trong lĩnh vực an ninh quốc phòng thời kỳ hội nhập.

Các cơ quan quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị pháp lý này nhằm hoàn thiện đề án sắp xếp doanh nghiệp giai đoạn tiếp theo, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công và đảm bảo năng lực phòng thủ vững chắc của quốc gia.