Tổng quan luận án
Chính sách quản lý vốn nhà nước (VNN) trong doanh nghiệp nhà nước (DNNN) sau cổ phần hóa (CPH) là một nội dung trọng tâm trong tiến trình đổi mới và tái cấu trúc khu vực kinh tế nhà nước tại Việt Nam. Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn gần 20 năm thực hiện CPH (tính đến thời điểm nghiên cứu năm 2011 - 2012), khi khu vực DN sau CPH bộc lộ nhiều bất cập liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn thấp, nguy cơ thất thoát vốn và khó khăn trong việc bảo toàn VNN. Mặc dù Chính phủ đã ban hành nhiều khung khổ pháp lý như Nghị định số 73/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 về Quy chế quản lý VNN ở DN khác và Nghị định số 09/2009/NĐ-CP ngày 05/02/2009 về Quy chế quản lý tài chính của công ty Nhà nước và quản lý VNN đầu tư vào DN khác, hệ thống chính sách vẫn còn thiếu tính đồng bộ, chưa giải quyết triệt để các vướng mắc phát sinh trong thực tế quản lý vốn tại các công ty cổ phần.
Về số liệu tổng thể tính đến ngày 25/5/2011 theo thống kê của Bộ Tài chính được luận án sử dụng:
| Chỉ tiêu sắp xếp, đổi mới DN |
Số lượng (DN/Bộ phận DN) |
Tỷ lệ (%) |
| Tổng số DN và bộ phận DN đã sắp xếp, chuyển đổi |
5.850 |
100% |
| - Doanh nghiệp thực hiện CPH |
3.948 |
67% |
| - Các hình thức sắp xếp khác (chuyển sang TNHH 1TV, sáp nhập, hợp nhất, bán, khoán) |
1.902 |
33% |
| Phân loại 3.948 DN thực hiện CPH theo cấp quản lý |
|
|
| - DN thuộc các địa phương quản lý |
2.294 |
58% |
| - DN thuộc các Bộ, ngành quản lý |
1.197 |
30% |
| - DN thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty |
457 |
12% |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu toàn diện, khái quát được bức tranh tổng thể về chính sách quản lý VNN trong các DN sau CPH trên bình diện cả nước, thay vì chỉ tiếp cận cục bộ ở từng ngành, từng địa phương hay từng doanh nghiệp riêng lẻ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về CPH DNNN và chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH.
- Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH tại Việt Nam từ năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu, chỉ rõ các kết quả đạt được, những vướng mắc và nguyên nhân.
- Xác định phương hướng và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: Nội dung và quá trình triển khai thực hiện chính sách của Nhà nước về quản lý VNN trong các công ty cổ phần được thành lập từ việc chuyển đổi sở hữu DNNN, tập trung phân tích quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu VNN cũng như quyền và nghĩa vụ của người đại diện phần VNN trong DN sau CPH.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Các DN sau CPH có vốn nhà nước trên phạm vi cả nước.
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách từ năm 1992 đến năm 2010 - 2011 và đề xuất giải pháp cho các năm tiếp theo.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến tiến trình CPH và quản lý vốn theo các nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm các nghiên cứu lý luận ban đầu và kinh nghiệm quốc tế về CPH (thập niên 1990):
- Hoàng Công Thi và Phùng Thị Đoan (1992) với “CPH DNNN ở Việt Nam”.
- Ủy ban Vật giá nhà nước (1993) với công trình “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của CPH khu vực kinh tế quốc doanh”.
- Đề tài khoa học cấp nhà nước (1993) về “Cơ sở khoa học của việc chuyển đổi một số DNNN thành công ty cổ phần ở Việt Nam”.
- Nguyễn Ngọc Quang (1996) với “CPH DN nhà nước cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn”.
- Hoàng Đức Tảo (1993) với nghiên cứu “CPH DN nhà nước - kinh nghiệm thế giới”.
Nhóm các nghiên cứu giải pháp thúc đẩy CPH theo ngành, địa phương và tổng công ty:
- Phạm vi địa phương: Nguyễn Mậu Quyết (2001) tại Hà Nội; Đặng Thanh Vân (2004), Nguyễn Ngọc Hiếu (2004), Nguyễn Quốc Dũng (2004) nghiên cứu các giải pháp tài chính thúc đẩy CPH tại Hà Nội; Nguyễn Văn Thắng (2006) tại tỉnh Hà Tây.
- Phạm vi ngành và Tổng công ty/Tập đoàn: Hoàng Kim Huyền (2003) trong ngành công nghiệp; Nguyễn Thị Ngọc Lan (2005), Trần Nam Hải (2006) và Nguyễn Thị Dung (2007) tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT); Vũ Đình Hiếu (2003) tại Tổng công ty Cơ điện nông nghiệp và thủy lợi; Hoàng Thị Minh (2006) tại Tổng công ty Lương thực miền Bắc; Trịnh Thị Kim Ngân (1999) trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng; Nguyễn Tiến Đạt (2004) tại Vinaconex; Bùi Minh Thuấn (2004) tại Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam; Văn Thị Nguyệt Hoa (2005) tại Tổng công ty Dầu khí Việt Nam; Nguyễn Thành Trung (2006) tại các DNNN thuộc Bộ Quốc phòng; Tạ Quang Trung (2008) tại các DNNN thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Nghiên cứu thực trạng sau CPH: Bùi Quốc Anh (2008) với nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn trước và sau CPH trong ngành giao thông vận tải, phân tích các khía cạnh sở hữu, quản trị điều hành, phân phối và lao động.
Nhóm nghiên cứu về vướng mắc tài chính, quản lý vốn và giám sát tài chính:
- Trần Tiến Cường (2010) nghiên cứu “Các vấn đề tồn tại và phát sinh của DN sau CPH đa dạng sở hữu”; Lê Hoàng Hải (2001) về các vướng mắc tài chính sau CPH.
- Vũ Ngọc Khuê (1999), Đặng Thị Bích Thuận (2002), Phạm Đình Toàn (2005) và Mai Công Quyền (2007) với các nghiên cứu về giải pháp tài chính và phát triển DNNN sau CPH.
- Lê Chi Mai (1993) với công trình “Vấn đề vốn trong CPH DN nhà nước”, phân tích khủng hoảng vốn và mô hình tạo vốn.
- Nguyễn Việt Tiến (2003) với “CPH DNNN ở Hà Nội và một số vấn đề hoàn thiện quản lý DN sau CPH”.
- Scott Cheshier và cộng sự (2006) trong nghiên cứu “Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư: CPH, tư nhân hóa và chuyển đổi DNNN tại Việt Nam”, khẳng định yêu cầu chuyển từ quản lý trực tiếp tài sản sang quản lý đầu tư để bảo toàn vốn.
- Nguyễn Mạnh Thắng (2008) với khung lý thuyết đổi mới quản lý VNN ở các công ty vừa và nhỏ sau CPH (điển hình tại Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Châu).
- Lê Đăng Doanh (2009) với quan điểm “Quản lý VNN cần lộ trình”, phân tích xung đột giữa chức năng sở hữu và chức năng quản lý hành chính.
- Phan Hoài Hiệp (2008) với “Đánh giá thực trạng quản lý VNN đầu tư vào DN”.
- Trần Văn Hiền (2008) và Trần Đức Chính (2001) về cơ chế kiểm tra, giám sát tài chính DNNN và xử lý thất thoát vốn.
- Các bài viết của chính tác giả Trần Xuân Long (2009) về vướng mắc cơ chế chính sách quản lý VNN tại DN sau CPH.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết:
Các công trình đi trước chủ yếu tập trung vào tiến trình CPH, xử lý tài chính tại thời điểm CPH, hoặc chỉ giới hạn ở một địa phương/tổng công ty cụ thể. Luận án của NCS Trần Xuân Long tập trung chuyên sâu vào giai đoạn "hậu CPH", trực diện giải quyết hệ thống chính sách quản lý VNN với 4 nội dung trụ cột: đại diện chủ sở hữu, người đại diện vốn, quản lý - đầu tư vốn và phân phối - sử dụng cổ tức nhà nước trên phạm vi toàn quốc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm và khung pháp lý về công ty cổ phần và quản lý vốn nhà nước:
- Bản chất pháp lý và cơ cấu tổ chức của CTCP theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc/Tổng giám đốc; các quy định về cổ phần phổ thông, cổ phần ưu đãi biểu quyết, chuyển nhượng cổ phần, phân phối cổ tức).
- Khái niệm vốn nhà nước trong DN và vốn nhà nước trong DN sau CPH: Vốn do ngân sách cấp, vốn tiếp nhận, bổ sung từ lợi nhuận sau thuế, giá trị quyền sử dụng đất, cổ tức để lại tái đầu tư (theo Nghị định 73/2000/NĐ-CP và Nghị định 09/2009/NĐ-CP).
- Các hình thức CPH theo Nghị định số 109/2007/NĐ-CP: (i) Giữ nguyên VNN hiện có, phát hành thêm cổ phiếu; (ii) Bán một phần VNN hiện có hoặc kết hợp phát hành thêm cổ phiếu; (iii) Bán toàn bộ VNN hiện có hoặc kết hợp phát hành thêm cổ phiếu.
- Bốn nội dung chính của chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH:
- Chính sách về đại diện chủ sở hữu VNN.
- Chính sách về người đại diện phần VNN (tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền lợi, trách nhiệm).
- Chính sách quản lý, đầu tư và thu hồi VNN.
- Chính sách phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức thuộc phần VNN.
- Khung phân tích kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình quản lý VNN tại Trung Quốc, chính sách giám sát VNN trong quá trình tư nhân hóa tại Hungary và mô hình công ty quản lý đầu tư kinh doanh vốn nhà nước Temasek Holdings tại Singapore.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để tổng kết các tài liệu nghiên cứu đã có, xây dựng khung lý luận về quản lý VNN trong DN sau CPH.
- Phương pháp phân tích văn bản chính sách: Rà soát, đối chiếu, mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật (Luật Doanh nghiệp 2005, Luật DNNN, các Nghị định 73/2000/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP, 109/2007/NĐ-CP, 09/2009/NĐ-CP...) để xác định các lỗ hổng, xung đột và bất cập trong cơ chế thực thi.
- Phương pháp tập hợp, xử lý dữ liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê chính thức từ Chính phủ, Bộ Tài chính, Cục Tài chính Doanh nghiệp, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và báo cáo tài chính của các DN sau CPH để phân tích diễn biến và kết quả thực hiện chính sách.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam
Chương I tập trung làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về CTCP, tiến trình CPH DNNN và cấu trúc của chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH.
1. Cơ sở lý luận về CTCP và CPH:
- CTCP là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, vốn điều lệ chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp.
- Quá trình CPH là sự chuyển đổi sở hữu từ hình thái một chủ sở hữu (Nhà nước) sang hình thái nhiều chủ sở hữu nhằm huy động vốn, đổi mới quản trị và nâng cao hiệu quả hoạt động theo nguyên tắc thị trường.
2. Nội dung các chính sách quản lý VNN:
- Đại diện chủ sở hữu: Phân định thẩm quyền giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ quản lý ngành, UBND cấp tỉnh, SCIC và Hội đồng quản trị các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước.
- Người đại diện phần VNN: Quy định cụ thể về tiêu chuẩn (quốc tịch, phẩm chất, năng lực chuyên môn tài chính, tính độc lập quan hệ gia đình), quyền hạn (tham gia ứng cử, biểu quyết theo chỉ đạo), quyền lợi (tiền lương, thù lao, phụ cấp người đại diện, quyền mua cổ phần phát hành thêm) và trách nhiệm báo cáo, bồi thường vật chất nếu vi phạm.
- Quản lý và đầu tư vốn: Quy định về thẩm quyền tăng, giảm vốn, rút vốn, điều chuyển vốn, đầu tư vốn ra ngoài DN và xử lý các khoản vốn thu hồi từ CPH hoặc giải thể, phá sản.
- Phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức: Cơ chế xác định cổ tức, thu nộp cổ tức phần VNN về ngân sách nhà nước hoặc Quỹ Hỗ trợ sắp xếp DN.
3. Kinh nghiệm quốc tế:
- Nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thành lập cơ quan chuyên trách quản lý tài sản nhà nước (SASAC).
- Nghiên cứu kinh nghiệm giám sát VNN trong tư nhân hóa tại Hungary.
- Nghiên cứu mô hình đầu tư và kinh doanh VNN của Singapore thông qua Temasek Holdings (Bảng 1.1: Cơ cấu danh mục tài sản nắm giữ của Temasek Holding).
Chương II: Tình hình thực hiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa từ năm 1992 đến nay ở Việt Nam
Chương II phản ánh bức tranh thực tiễn triển khai chính sách quản lý VNN qua hai giai đoạn phát triển và phân tích sâu các tồn tại, vướng mắc:
1. Quá trình CPH DNNN tại Việt Nam:
- Giai đoạn 1992 - 1998: Giai đoạn thí điểm CPH, số lượng DN thực hiện còn hạn chế do vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
- Giai đoạn 1998 đến thời điểm nghiên cứu: Giai đoạn mở rộng và đẩy mạnh CPH theo các Nghị định 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP và 109/2007/NĐ-CP. Tính đến 25/5/2011 đã thực hiện CPH được 3.948 DN trên tổng số 5.850 DN được sắp xếp lại.
2. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách quản lý VNN:
Luận án phân tích thực trạng qua hệ thống dữ liệu và biểu đồ (Biểu đồ 2.1: Số lượng DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Biểu đồ 2.2: Số lượng DNNN CPH qua các năm; Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ DN do Nhà nước nắm cổ phần; Các bảng số liệu về cơ cấu vốn điều lệ, tỷ lệ VNN, kết quả tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu của SCIC và các chỉ tiêu tài chính của SCIC qua 3 năm hoạt động).
3. Kết quả đạt được và các vướng mắc, tồn tại:
- Kết quả: Bước đầu thiết lập được hành lang pháp lý cho việc quản lý vốn tại DN khác; hình thành mô hình doanh nghiệp chuyên trách quản lý vốn (SCIC); thu hút thêm nguồn lực tài chính xã hội vào DN.
- Tồn tại, vướng mắc chính:
- Về đại diện chủ sở hữu: Mô hình đại diện còn phân tán, chồng chéo giữa cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Bộ, UBND cấp tỉnh) và doanh nghiệp đầu tư vốn (SCIC). Một số Bộ, địa phương chậm trễ, không thực hiện nghiêm túc việc bàn giao quyền đại diện chủ sở hữu VNN về SCIC theo quy định.
- Về người đại diện vốn: Năng lực chuyên môn của một bộ phận người đại diện chưa đáp ứng được yêu cầu quản trị công ty cổ phần; cơ chế bổ nhiệm, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ còn thiếu chặt chẽ; chế độ đãi ngộ, tiền lương, phụ cấp chưa thỏa đáng dẫn đến thiếu động lực gắn trách nhiệm cá nhân với hiệu quả bảo toàn vốn.
- Về quản lý và đầu tư vốn: Cơ chế phân cấp đầu tư, tăng giảm vốn chưa đồng bộ, thẩm quyền của HĐQT và Ban điều hành SCIC còn bị bó hẹp bởi các thủ tục hành chính. Xuất hiện tình trạng đầu tư chéo, dàn trải trong các Tập đoàn, Tổng công ty gây rủi ro thất thoát vốn.
- Về phân phối và nộp cổ tức: Tình trạng nhiều DN sau CPH cố tình giữ lại tiền thu từ bán bớt phần VNN hoặc chậm nộp, giữ lại lợi tức/cổ tức thuộc sở hữu nhà nước thay vì nộp về các Quỹ quản lý tập trung theo quy định.
Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa ở Việt Nam
Chương III xác định các quan điểm, định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý VNN:
1. Phương hướng và quan điểm:
- Quán triệt đường lối của Đảng và Nhà nước về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN và DN có vốn nhà nước.
- Tách bạch rõ ràng chức năng quản lý hành chính nhà nước của các cơ quan công quyền với chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
- Chuyển phương thức quản lý vốn từ can thiệp hành chính trực tiếp sang quản lý đầu tư vốn theo nguyên tắc thị trường, bảo toàn và phát triển giá trị vốn nhà nước.
2. Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Đổi mới chính sách quản lý và Quy chế người đại diện:
- Kiến nghị Chính phủ ban hành Nghị định về Quy chế người đại diện phần VNN trong DN sau CPH, chuẩn hóa quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, đào tạo, đánh giá và bãi miễn người đại diện.
- Xây dựng cơ chế đãi ngộ thỏa đáng (gắn thu nhập, thưởng - phạt với hiệu quả sử dụng vốn và tỷ suất sinh lời) song song với quy định chế tài bồi thường trách nhiệm vật chất minh bạch, nghiêm minh.
- Về lâu dài, trình Quốc hội ban hành Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động kinh doanh để tạo khung pháp lý đồng bộ, tối cao.
- Giải pháp về tổ chức quản lý và cơ quan chuyên trách:
- Đề xuất xem xét hai hướng mô hình: (i) Thành lập một cơ quan nhà nước chuyên trách quản lý VNN tại doanh nghiệp (Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp); hoặc (ii) Hoàn thiện và nâng cao vai trò, năng lực của mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) như một định chế đầu tư chuyên nghiệp.
- Hoàn tất việc chuyển giao dứt điểm quyền đại diện chủ sở hữu VNN tại các DN độc lập từ các Bộ, ngành, UBND địa phương về cơ quan chuyên trách quản lý vốn.
- Giải pháp tài chính và công cụ đầu tư:
- Thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp nhằm thực hiện chức năng tái đầu tư, hỗ trợ tái cấu trúc vốn và tập trung nguồn lực vào các ngành, lĩnh vực then chốt.
- Tăng cường cơ chế giám sát tài chính, kiểm tra dòng tiền phân phối lợi nhuận, bắt buộc thu nộp kịp thời các khoản thu từ CPH, thoái vốn và cổ tức nhà nước về quỹ tập trung.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt học thuật và lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ nội hàm lý luận của chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH tại Việt Nam, phân định cấu trúc chính sách thành 4 trụ cột cơ bản:
- Thể chế đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước;
- Cơ chế quản lý người đại diện phần vốn nhà nước;
- Chính sách quản lý, đầu tư và cơ cấu lại vốn nhà nước;
- Quy chế phân phối lợi tức và quản lý nguồn thu từ cổ tức nhà nước.
- Làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của việc chuyển đổi từ cơ chế quản lý mệnh lệnh hành chính sang cơ chế quản lý vốn đầu tư thông qua tư cách cổ đông theo Luật Doanh nghiệp.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Chỉ ra 4 nhóm tồn tại cốt lõi trong thực thi chính sách tại Việt Nam giai đoạn 1992 - 2011:
- Sự phân tán, chồng chéo và chậm chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu từ các Bộ/địa phương về cơ quan chuyên trách.
- Bất cập về năng lực, tiêu chuẩn, cơ chế phân cấp trách nhiệm và chính sách đãi ngộ đối với người đại diện vốn.
- Sự phân cấp chưa đầy đủ về quyền đầu tư và kinh doanh vốn cho tổ chức chuyên trách (SCIC).
- Tình trạng chiếm dụng, giữ lại trái quy định các nguồn thu từ thoái vốn và cổ tức phần VNN.
- Đề xuất gói giải pháp thể chế mang tính đồng bộ:
- Ban hành Nghị định chuyên biệt về Quy chế người đại diện vốn nhà nước, chuẩn bị tiền đề xây dựng Luật Quản lý vốn nhà nước đầu tư vào hoạt động kinh doanh.
- Đề xuất mô hình cơ quan chuyên trách quản lý VNN (mô hình Tổng cục Quản lý VNN tại doanh nghiệp kết hợp hoàn thiện năng lực SCIC).
- Đề xuất thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp để chủ động điều tiết nguồn vốn nhà nước theo các mục tiêu chiến lược.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Phạm vi số liệu thực chứng kết thúc ở mốc thời gian năm 2010 - 2011, phản ánh bối cảnh triển khai theo khung khổ pháp lý của Luật Doanh nghiệp 2005 và các Nghị định liên quan thời kỳ đó.
- Nguồn dữ liệu chủ yếu dựa trên các báo cáo tổng hợp thứ cấp từ Bộ Tài chính, SCIC và một số cơ quan đại diện chủ sở hữu, chưa thực hiện các khảo sát định lượng diện rộng trên mẫu ngẫu nhiên tất cả các DN sau CPH.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu đánh giá tác động khi Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp được ban hành và đi vào thực tiễn.
- Nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả quản trị và cơ chế thoái vốn toàn bộ tại các DN sau CPH thuộc nhóm Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho các đối tượng:
- Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Cục Tài chính Doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ): Tham khảo luận cứ thực tiễn để sửa đổi, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, quy chế người đại diện vốn và cơ chế chuyển giao quyền sở hữu.
- Doanh nghiệp và tổ chức quản lý vốn (SCIC, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty): Cung cấp cơ sở đánh giá tình hình quản lý danh mục đầu tư, xây dựng quy chế giám sát người đại diện và quản lý dòng tiền cổ tức.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về CPH DNNN, quản trị công ty cổ phần có vốn nhà nước và tài chính công tại các cơ sở đào tạo khối ngành kinh tế và quản lý.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ phân bổ 3.948 DN đã CPH theo cấp quản lý tính đến ngày 25/5/2011 trong luận án là bao nhiêu?
Theo số liệu tổng hợp của Bộ Tài chính được nêu trong luận án, trong số 3.948 DN CPH:
- DN thuộc các địa phương quản lý: 2.294 DN (chiếm 58%).
- DN thuộc khối các Bộ, ngành: 1.197 DN (chiếm 30%).
- DN thuộc các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty: 457 DN (chiếm 12%).
2. Luận án chỉ ra 4 nội dung trụ cột nào của chính sách quản lý VNN trong DN sau CPH?
Bốn nội dung trụ cột bao gồm:
- Chính sách về đại diện chủ sở hữu VNN trong DN sau CPH.
- Chính sách về người đại diện phần VNN trong DN sau CPH.
- Chính sách quản lý, đầu tư VNN trong DN sau CPH.
- Chính sách phân phối lợi tức và sử dụng cổ tức phần VNN trong DN sau CPH.
3. Những vướng mắc chính liên quan đến người đại diện phần VNN được luận án phát hiện là gì?
Luận án chỉ ra các vướng mắc: năng lực của một số người đại diện chưa đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp; cơ chế bổ nhiệm cán bộ còn mang nặng tính hành chính; quy định về quyền hạn, nhiệm vụ, chế độ đãi ngộ (tiền lương, thù lao, phụ cấp) chưa thỏa đáng; thiếu các tiêu chí đánh giá chính xác mức độ hoàn thành nhiệm vụ và chế tài xử lý trách nhiệm vật chất khi xảy ra tổn thất chưa đủ nghiêm minh.
4. Luận án đề xuất những mô hình nào cho cơ quan quản lý vốn nhà nước chuyên trách?
Luận án đề xuất xem xét hai hướng mô hình chính:
- Hướng thứ nhất: Thành lập Tổng cục Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước để thống nhất quản lý.
- Hướng thứ hai: Quản lý VNN theo mô hình đầu tư và kinh doanh vốn thông qua việc nâng cao năng lực và vai trò của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS Trần Xuân Long đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách quản lý vốn nhà nước trong các doanh nghiệp sau CPH tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2011. Trên cơ sở phân tích thực trạng triển khai và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc, Hungary và Singapore, luận án đã chỉ rõ 4 nhóm hạn chế lớn trong cơ chế đại diện chủ sở hữu, người đại diện vốn, quản lý đầu tư và phân phối cổ tức. Công trình đóng góp các giải pháp trọng tâm mang tính định chế như đề xuất ban hành Nghị định về Quy chế người đại diện vốn, tiến tới xây dựng Luật chuyên ngành, thành lập Quỹ đầu tư vốn nhà nước và hoàn thiện mô hình cơ quan chuyên trách quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.