Khóa luận vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận luật học phân tích vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

76
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương

Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam tổ chức theo mô hình lồng ghép thống nhất. Trong mô hình này, ngân sách trung ương giữ vai trò hạt nhân quyết định. Pháp luật ngân sách quy định trung ương tập trung các nguồn thu lớn và chiến lược. Các nguồn thu này gắn liền với thương mại quốc tế, tài nguyên dầu khí và doanh nghiệp quy mô lớn. Nhờ đó, chính quyền trung ương có đủ năng lực tài chính để chi trả cho các nhiệm vụ trọng yếu quốc gia. Các nhiệm vụ bao gồm quốc phòng, an ninh, ngoại giao và hạ tầng liên vùng. Vai trò chủ đạo thể hiện rõ qua quyền chi phối nguồn lực và thẩm quyền ban hành chính sách tài khóa. Ngân sách trung ương phân bổ lại nguồn lực cho các địa phương khó khăn. Cơ chế này bảo đảm sự phát triển đồng đều giữa các vùng kinh tế. Quyền lực tài chính tập trung tạo sự ổn định kinh tế vĩ mô và phòng ngừa rủi ro chu kỳ. Sự kiểm soát chặt chẽ từ trung ương duy trì kỷ luật ngân sách nghiêm ngặt. Việc nhận diện đúng cơ sở lý luận giúp hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành.

1.1. Khái niệm và đặc trưng pháp lý của ngân sách trung ương

Ngân sách trung ương là bộ phận nòng cốt cấu thành hệ thống ngân sách nhà nước. Nguồn tài chính này do cơ quan nhà nước ở trung ương trực tiếp quản lý và sử dụng. Đặc trưng pháp lý nổi bật là tính tập trung quyền lực kinh tế công. Ngân sách trung ương chiếm tỷ trọng chi phối trong tổng thu và tổng chi quốc gia. Pháp luật trao quyền thu đối với thuế xuất nhập khẩu và tài nguyên dầu khí. Nguồn ngân sách này chịu trách nhiệm cấp phát cho dự án trọng điểm quốc gia. Về mặt vận hành, ngân sách trung ương thiết lập trật tự tài khóa thống nhất cho địa phương. Cơ chế này ngăn chặn phân tán nguồn lực và bảo đảm sự điều hành tập trung của nhà nước.

1.2. Ý nghĩa kinh tế xã hội của nguyên tắc chủ đạo

Nguyên tắc chủ đạo giữ vai trò nền tảng trong ổn định kinh tế vĩ mô. Khi khủng hoảng xảy ra, ngân sách trung ương là công cụ giải cứu kịp thời. Trung ương chủ động điều chuyển vốn để kích cầu đầu tư và giải quyết an sinh. Về mặt xã hội, nguyên tắc này thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Trung ương điều tiết nguồn thu từ các tỉnh giàu sang các tỉnh nghèo. Các khoản bổ sung cân đối giúp vùng sâu vùng xa tiếp cận hạ tầng và giáo dục. Sự can thiệp tài chính bảo đảm công bằng xã hội và củng cố khối đại đoàn kết. Ngoài ra, nguyên tắc này tạo lập nền tảng an ninh quốc phòng vững chắc. Việc kiểm soát tài chính tập trung nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của quốc gia.

II. Thực trạng vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương hiện nay

Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 đã thiết lập khung pháp lý chặt chẽ. Hệ thống phân định rõ nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền. Ngân sách trung ương hưởng trọn vẹn các sắc thuế lớn như thuế xuất nhập khẩu và tài nguyên dầu thô. Các khoản thu phân chia gồm thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đang bộc lộ nhiều bất cập đáng lo ngại. Tỷ trọng thu của ngân sách trung ương trong tổng thu ngân sách nhà nước có xu hướng giảm dần. Nguồn thu từ dầu khí và hoạt động xuất nhập khẩu suy giảm do biến động thị trường. Trong khi đó, nhiều địa phương phát triển gia tăng nguồn thu từ đất đai và bất động sản. Sự chuyển dịch này làm giảm dần quy mô tài chính tương đối của trung ương. Khả năng điều tiết và hỗ trợ các địa phương nghèo gặp nhiều áp lực. Kế hoạch tài chính trung hạn triển khai còn mang tính hình thức. Tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư vẫn diễn ra ở nhiều lĩnh vực.

2.1. Quy định phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi

Pháp luật hiện hành phân định ranh giới tài chính rõ ràng giữa các cấp. Ngân sách trung ương đảm nhận các khoản chi mang tầm chiến lược quốc gia. Đó là chi quốc phòng, an ninh, dự trữ quốc gia và các công trình liên vùng. Ngân sách địa phương chịu trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế địa phương. Tuy vậy, cơ chế phân chia tỷ lệ phần trăm giữa trung ương và địa phương còn cứng nhắc. Việc xác định tỷ lệ điều tiết chưa phản ánh chính xác tiềm năng thu của từng vùng. Một số khoản thu địa phương hưởng trọn vẹn lại có tính chất biến động bất thường. Cơ chế phân cấp chi đầu tư phát triển giữa hai cấp còn chồng chéo và thiếu tính gắn kết dài hạn.

2.2. Những rào cản và khoảng trống pháp lý thực tế

Khoảng trống lớn nhất nằm ở cơ chế kiểm soát kế hoạch tài chính trung hạn. Việc lập kế hoạch 3 năm và 5 năm vẫn mang nặng tính hình thức đối phó. Tư duy ngân sách ngắn hạn hàng năm vẫn chi phối các quyết định phân bổ. Sự tách rời giữa chi đầu tư xây dựng và chi vận hành thường xuyên gây lãng phí. Các địa phương có xu hướng trông chờ và ỷ lại vào nguồn bổ sung từ trung ương. Nhiều tỉnh chưa phát huy tối đa nội lực thu ngân sách tại chỗ. Ngoài ra, khuôn khổ pháp lý chưa có giải pháp bảo vệ an toàn tài chính công khi xảy ra cú sốc kinh tế. Không gian tài khóa của ngân sách trung ương bị thu hẹp đáng kể khi đối mặt tình huống khẩn cấp.

III. Giải pháp củng cố vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương

Hoàn thiện pháp luật ngân sách nhà nước là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Mục tiêu trọng tâm là củng cố vững chắc vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương. Trước hết, nhà nước cần tái cơ cấu hệ thống nguồn thu một cách toàn diện. Luật cần mở rộng cơ sở thu đối với các hoạt động kinh tế số và thương mại điện tử xuyên biên giới. Đây là nguồn thu mới dồi dào, cần phân cấp tập trung 100% cho ngân sách trung ương. Đồng thời, cơ chế phân bổ ngân sách cần chuyển mạnh từ đầu vào sang quản lý kết quả đầu ra. Việc này giúp nâng cao hiệu quả giải ngân và chất lượng công trình công. Pháp luật cần chuẩn hóa quy trình phân cấp tài khóa theo hướng minh bạch, rõ ràng. Kế hoạch tài chính trung hạn phải trở thành căn cứ pháp lý bắt buộc khi lập dự toán hàng năm. Bên cạnh đó, ngân sách trung ương cần tăng cường quyền hạn giám sát chi tiêu địa phương. Cơ chế kiểm soát chặt chẽ sẽ ngăn chặn lãng phí và thất thoát nguồn lực tài chính quốc gia.

3.1. Hoàn thiện phân định nguồn thu và tỷ lệ điều tiết

Giải pháp mấu chốt là xác định lại danh mục các nguồn thu ngân sách trung ương hưởng 100%. Các sắc thuế có tính điều tiết toàn quốc cần giữ lại ở trung ương. Nhà nước cần điều chỉnh tỷ lệ phân chia thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Tỷ lệ điều tiết phải bảo đảm trung ương giữ phần lớn để chủ động chi tiêu. Pháp luật cần rà soát chính sách thu đối với tài nguyên đất đai tại địa phương. Việc trích một phần tiền thu sử dụng đất về trung ương sẽ tạo nguồn lực phát triển hạ tầng quốc gia. Phương thức này giảm dần sự chênh lệch thu nhập giữa các đô thị lớn và vùng nông thôn. Sự phân định mạch lạc giúp tăng tính minh bạch và ổn định thu ngân sách lâu dài.

3.2. Đổi mới quản trị và điều hành chi ngân sách trung hạn

Quản lý ngân sách cần gắn liền với khuôn khổ tài chính trung hạn thực chất. Quy trình lập dự toán phải tích hợp chặt chẽ giữa chi đầu tư và chi thường xuyên. Nhà nước cần xây dựng hệ thống chỉ số đo lường kết quả công việc trong phân bổ vốn. Cơ chế này loại bỏ tình trạng giải ngân dàn trải và kém hiệu quả. Việc bổ sung ngân sách có mục tiêu cho địa phương cần dựa trên tiêu chí rõ ràng. Ngân sách trung ương chỉ tài trợ cho các dự án có tính lan tỏa vùng và liên tỉnh. Hệ thống kiểm toán nhà nước và thanh tra tài chính phải tăng cường kiểm soát độc lập. Kỷ luật tài khóa nghiêm minh sẽ bảo vệ trật tự an toàn tài chính công quốc gia.

IV. Kết luận về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương ở nước ta

Vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương là nguyên tắc hiến định cốt lõi. Nguyên tắc này bảo đảm tính thống nhất và quyền lực tập trung của nhà nước. Trong bối cảnh phát triển mới, việc duy trì vị thế của trung ương đối mặt nhiều thách thức lớn. Nguồn thu truyền thống suy giảm và áp lực chi tiêu an sinh ngày càng gia tăng. Do đó, việc cải cách pháp luật ngân sách nhà nước là đòi hỏi tất yếu của thực tiễn. Nghiên cứu khóa luận đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện các quy định hiện hành. Các giải pháp đề xuất tập trung vào phân cấp nguồn thu hợp lý và hiện đại hóa quản trị ngân sách. Việc ứng dụng các kiến nghị này sẽ nâng cao tính chủ động cho ngân sách trung ương. Đồng thời, địa phương vẫn có động lực mở rộng nguồn thu và tự chủ tài chính. Một hệ thống tài khóa cân bằng sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững và thịnh vượng lâu dài.

4.1. Giá trị nghiên cứu đối với ngành luật học

Khóa luận đóng góp nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho ngành luật tài chính công. Đề tài làm sáng tỏ các khái niệm pháp lý về ngân sách nhà nước. Công trình đã phân tích sâu sắc mối quan hệ phân cấp giữa trung ương và địa phương. Những luận điểm khoa học giúp định hình góc nhìn pháp lý hiện đại và đa chiều. Kết quả nghiên cứu làm phong phú thêm kho tàng lý luận luật học kinh tế Việt Nam. Các phân tích thực tiễn là nguồn tư liệu hữu ích cho hoạt động giảng dạy đại học. Sinh viên và học viên cao học có thể kế thừa các đánh giá này cho các đề tài mở rộng. Nghiên cứu đã hoàn thành xuất sắc mục tiêu học thuật đặt ra.

4.2. Khả năng ứng dụng trong thực tiễn lập pháp

Các đề xuất trong khóa luận có tính ứng dụng thực tiễn cao đối với cơ quan lập pháp. Nội dung nghiên cứu cung cấp cơ sở cho việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước. Những phát hiện về bất cập điều tiết nguồn thu giúp các nhà làm luật hoàn thiện chính sách. Việc phân định thẩm quyền ngân sách rõ ràng sẽ tháo gỡ rào cản phân bổ vốn đầu tư công. Cơ quan quản lý có thể tham khảo phương pháp quản lý trung hạn để xây dựng dự toán hiệu quả. Các kiến nghị cũng gợi mở giải pháp bảo vệ an toàn nợ công và an ninh tài chính. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp sẽ kiến tạo nền tài chính quốc gia lành mạnh và tự cường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước ở việt nam thực trạng pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Lý luận về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước và pháp luật về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước. Thực trạng pháp luật quy định về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam Chương 3. Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam.

LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG TRONG HỆ THỐNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Lý luận về vai trò của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước 1. Khái quát về hệ thống ngân sách nhà nước Thuật ngữ “ Ngân sách nhà nước” đã xuất hiện từ rất lâu và được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia. Tùy theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta đưa ra cách định nghĩa khác nhau về NSNN.

Taylor, trong cuốn “ Tài chính công” đã định nghĩa: “ Ngân sách là chương trình tài chính chính yếu của chính phủ. Tài liệu này tập trung các dữ liệu thu và chi trong khoảng thời gian của tài khóa, bao hàm các chương trình hoạt động phải thực hiện và các phương tiện tài trợ các hoạt động ấy”.2 Theo từ điển bách khoa toàn thư Nga, xuất bản năm 2000 thì: “ Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước được lập ra cho một thời gian nhất định".3 Theo Từ điển Tiếng Việt: “Ngân sách là tổng số nói chung tiền thu và chi trong một thời gian nhất định của nhà nước, của xí nghiệp hoặc của một cá nhân. 4 Do vậy, NSNN có thể hiểu là tổng số thu và chi trong một thời gian nhất định của nhà nước. Tại Luật NSNN năm 2015, khái niệm về NSNN có sự điều chỉnh cho phù hợp với việc đưa vào áp dụng kế hoạch tài chính – ngân sách trung hạn (3 năm và 5 năm) như sau: " Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán 2 Philip E.

Taylor (1963), Tài chánh công, Trung tâm nghiên cứu Việt Nam phiên dịch và xuất bản, tr. 4 Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, tr. 8 và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.” Như vậy có thể hiểu: “Ngân sách nhà nước là kế hoạch thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của nhà nước - quỹ ngân sách nhằm bảo đảm để nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình”. Bản chất của NSNN được thể hiện qua: (1) NSNN là bản kế hoạch tài chính của Nhà nước được xây dựng cho một khoảng thời gian nhất định; (2) nội dung là toàn bộ các khoản thu – chi bằng tiền của Nhà nước; (3) phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội; (4) do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện.

Theo Từ điển tiếng việt, hệ thống được định nghĩa là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất5. Hệ thống nói chung, được cấu thành khi có đủ các yếu tố: (i) hệ thống đó có bộ phận cấu thành; (ii) các bộ phận trong hệ thống có quan hệ mật thiết, bổ sung tác động lẫn nhau; (iii) mối quan hệ của các bộ phận trong hệ thống theo một thể thống nhất và cùng thực hiện các mục tiêu chung của hệ thống. Trong Giáo trình Tài chính - Tiền tệ (2014), các tác giả Phạm Ngọc Dũng và Đinh Xuân Hạng cho rằng: “Hệ thống ngân sách nhà nước là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách được xác định bởi sự thống nhất về cơ sở kinh tế, chính trị, bởi pháp chế và các nguyên tắc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước”6. Theo giáo trình luật NSNN của trường Đại học luật Hà Nội, “ Hệ thống ngân sách nhà nước là một thể thống nhất được tạo thành bởi các bộ phận cấu thành là các khâu ngân sách độc lập nhưng giữa chúng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thu, chi của mình.7 Đây cũng là khái niệm về hệ thống NSNN được sử dụng trong toàn khóa luận.

Có thể thấy, việc xây dựng hệ thống NSNN dựa trên hai căn cứ chủ yếu: 5 Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, tr. 6 Phạm Ngọc Dũng, Đinh Xuân Hạng, (2014), Giáo trình tài chính - tiền tệ, NXB Tài chính, Hà Nội. 7 Trường Đại học Luật Hà Nội, (2022), Giáo trình Luật ngân sách nhà nước, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr. 9 Thứ nhất, căn cứ vào tổ chức bộ máy nhà nước – là yếu tố có tính quyết định.

Mỗi quốc gia có cách thức tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau sẽ hình thành một hệ thống NSNN tương ứng. Ở những quốc gia theo mô hình nhà nước liên bang (ví dụ: Hoa Kỳ, Đức, Úc, Nga…), hệ thống NSNN thường bao gồm: ngân sách liên bang và ngân sách bang và NSĐP. Ở Hoa Kỳ, các cấp chính quyền nhà nước ở cấp Liên bang, bang và địa phương đều có ngân sách của mình. Mỗi cấp chính quyền nhà nước có những nguồn thu riêng, tuy nhiên, chính quyền cấp bang và cấp địa phương ngoài nguồn thu riêng còn được hưởng những khoản trợ cấp từ Chính phủ Liên bang để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của cấp mình.8 Trong khi đó, các quốc gia theo mô hình nhà nước đơn nhất (ví dụ: Trung Quốc, Nhật Bản,.) có hệ thống ngân sách tập trung hơn, với các cấp NSĐP chịu sự điều tiết chặt chẽ của NSTW.

Chẳng hạn, ở Trung Quốc, NSNN được cấu thành từ NSTW và NSĐP. NSTW được cấu thành từ ngân sách của tất cả các cơ quan trung ương (bao gồm cả các đơn vị trực thuộc cơ quan trung ương). NSĐP được hình thành từ ngân sách chung của tất cả các cấp chính quyền địa phương (các tỉnh, các khu tự trị và các thị chính trực thuộc trung ương). 9 Thứ hai, căn cứ vào các mối quan hệ có liên quan tới hoạt động ngân sách như khả năng thu và nhu cầu chi của cấp chính quyền, hệ thống NSNN được thiết kế nhằm phân bổ hợp lý nguồn lực, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp.

Việc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống ngân sách nhưng vẫn linh hoạt theo đặc điểm vùng, miền và năng lực quản lý của từng cấp chính quyền. Hệ thống NSNN có một số đặc điểm nổi bật như sau: Thứ nhất, tính phân cấp và thống nhất: Hệ thống NSNN gồm nhiều cấp ngân sách, được phân cấp rõ ràng về thu - chi và quản lý, nhưng vẫn đảm bảo sự thống nhất dưới sự điều hành của NSTW. Thứ hai, có mối quan hệ chặt chẽ giữa các cấp ngân sách: Các cấp ngân sách có sự liên thông, hỗ trợ và kiểm soát lẫn nhau. NSTW có thể thực hiện các khoản bổ sung cân đối cho NSĐP để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ chi – điển hình là ở Việt Nam, NSTW hỗ trợ các địa phương không tự cân đối được thu – chi.

Rosen (1992), Public Finance, Richard D. 9 Điều 4, điều 5 Luật ngân sách nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 10 Thứ ba, sự linh hoạt trong điều hành ngân sách: Tùy theo từng mô hình nhà nước, hệ thống NSNN có mức độ linh hoạt khác nhau trong phân bổ và sử dụng nguồn lực. Hệ thống NSNN đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, thể hiện qua các khía cạnh: Một là, hệ thống NSNN là công cụ huy động và phân bổ nguồn lực tài chính công. Hệ thống NSNN đảm bảo tập hợp và phân bổ nguồn lực tài chính đến các lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế…Hai là, hệ thống NSNN gắn liền với việc thực hiện quyền lực nhà nước.

Việc phê chuẩn, thực thi và giám sát ngân sách là biểu hiện cụ thể của hoạt động quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tài chính công. Ba là, hệ thống NSNN thúc đẩy phát triển cân đối giữa các vùng miền: Thông qua các cơ chế điều tiết và bổ sung ngân sách từ trung ương, hệ thống NSNN góp phần giảm chênh lệch về phát triển giữa các địa phương. Khái quát về vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương trong hệ thống ngân sách nhà nước NSTW là một bộ phận cấu thành quan trọng nhất của hệ thống ngân sách nhà nước. Ngân sách trung ương là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương.10 Từ khái niệm trên, có thể rút ra một số đặc điểm của NSTW như sau: Thứ nhất, NSTW là kế hoạch tài chính do cơ quan quyền lực nhà nước cấp trung ương quyết định và giám sát.

Mọi hoạt động thu - chi NSTW đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật về NSNN. Thứ hai, NSTW có phạm vi điều tiết rộng và bao trùm toàn quốc. Đây là công cụ tài chính chủ yếu để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các chính sách an sinh xã hội mang tính toàn quốc. Tính chất toàn diện và bao quát này tạo nên vai trò chủ đạo của NSTW trong việc bảo đảm cân đối vĩ mô và phân phối lại nguồn lực giữa các vùng, miền.

Thứ ba, hoạt động thu – chi của NSTW mang tính điều tiết cao và định hướng chiến lược.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ