Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng thất thoát nước sạch và áp lực vốn đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị luôn là bài toán nan giải tại các đại đô thị đang phát triển. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nước không tạo doanh thu duy trì ở mức cao từ 40% đến 43% trong suốt giai đoạn 2004 - 2010, gây lãng phí nghiêm trọng nguồn tài nguyên và gia tăng giá thành sản xuất. Nhằm giải quyết sự thiếu hụt nguồn vốn ngân sách ước tính lên đến 12.740 tỷ đồng phục vụ quy hoạch mạng lưới đến năm 2015, chủ trương xã hội hóa và đối tác công - tư đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Cụ thể, Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn đã thực hiện thí điểm cổ phần hóa 6 trong tổng số 8 chi nhánh phân phối nước sạch vào tháng 2 năm 2007 theo Quyết định 131/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 141/2005/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh là quá trình tư nhân hóa từng phần này không mang lại sự cải thiện rõ rệt về mặt kỹ thuật và tài chính cho doanh nghiệp nhà nước mẹ, đồng thời làm phát sinh xung đột giữa mục tiêu lợi nhuận thương mại và nghĩa vụ an sinh xã hội. Luận văn tập trung đánh giá tác động nhiều chiều của tiến trình cổ phần hóa đối với bốn nhóm chủ thể chính: Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn, các công ty cổ phần cấp nước thành viên, người tiêu dùng và cơ quan quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu bao quát địa bàn toàn Thành phố Hồ Chí Minh với chuỗi số liệu từ năm 2004 đến năm 2011, đối chiếu với Quy hoạch cấp nước đến năm 2025. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ tái cấu trúc mạng lưới cấp nước hơn 3.800 km đường ống, giải quyết bài toán tiếp cận nước sạch cho 386.840 người dân thuộc diện nghèo và cận nghèo đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng các lý thuyết kinh tế học công cộng và kinh tế học vi mô chuyên sâu:

  • Lý thuyết độc quyền tự nhiên và tổn thất tải trọng xã hội: Cơ sở hạ tầng ngành nước đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu rất lớn và mang tính chất kinh tế theo quy mô rõ rệt. Cả 4 công đoạn gồm khai thác, xử lý, truyền dẫn và phân phối đều mang đặc tính độc quyền tự nhiên. Khi thiếu sự điều tiết giá hợp lý, doanh nghiệp độc quyền sẽ định giá cao và cung ứng sản lượng thấp, gây ra tổn thất phúc lợi xã hội nghiêm trọng.
  • Lý thuyết ngoại tác tích cực và hàng hóa công: Sử dụng nước sạch sinh hoạt tạo ra ngoại tác tích cực to lớn về mặt y tế, sức khỏe cộng đồng và giảm nghèo bền vững. Lợi ích biên xã hội luôn lớn hơn lợi ích biên cá nhân, đòi hỏi nhà nước phải can thiệp bằng trợ cấp hoặc biểu giá bậc thang để đảm bảo mức tiêu dùng tối ưu.
  • Lý thuyết thất bại của chính phủ: Bất cân xứng thông tin, ràng buộc ngân sách mềm, vấn đề người đại diện và các rào cản hành chính khiến doanh nghiệp nhà nước vận hành kém hiệu quả, năng suất lao động thấp và thiếu động lực đổi mới công nghệ.
  • Khung phân tích mô hình đối tác công - tư: Phổ hợp tác công - tư trải dài từ hợp đồng dịch vụ ngắn hạn, hợp đồng thuê vận hành, các dạng BOT/BOO đến hình thức thoái vốn hay cổ phần hóa toàn diện, trong đó mức độ chuyển giao rủi ro thương mại và quyền sở hữu tài sản thay đổi tương ứng.

Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động bao gồm: tỷ lệ nước không tạo doanh thu, hệ số chi phí hoạt động trên doanh thu (ngưỡng an toàn quốc tế không vượt quá 0,7) và định mức nhân sự trên 1.000 đấu nối (chuẩn mực khu vực Đông Nam Á từ 3 nhân viên trở xuống).

Phương pháp nghiên cứu

  • Cỡ mẫu và nguồn dữ liệu: Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa từ toàn bộ hệ thống gồm 8 chi nhánh phân phối (6 công ty cổ phần như Cấp nước Chợ Lớn, Gia Định, Nhà Bè, Bến Thành, Phú Hòa Tân, Thủ Đức và 2 công ty TNHH MTV Tân Hòa, Trung An), kết hợp báo cáo tài chính của Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn. Dữ liệu được đối chiếu với chương trình đánh giá chuẩn ngành nước Việt Nam giai đoạn 2004 - 2010 do Ngân hàng Thế giới và Hội Cấp thoát nước Việt Nam phối hợp thực hiện.
  • Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn phương pháp lấy mẫu mục tiêu toàn diện trên toàn bộ mạng lưới truyền tải và phân phối nước sạch của thành phố với hơn 798.765 đấu nối khách hàng tính đến năm 2010.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình kết hợp phân tích định lượng chỉ số tài chính, kỹ thuật và phỏng vấn sâu các chuyên gia ngành nước. Việc kết hợp này cho phép mổ xẻ các nút thắt thể chế, cơ chế chuyển dịch rủi ro và các rào cản thủy lực mà các mô hình hồi quy kinh tế lượng đơn thuần không thể phản ánh đầy đủ. Tiến trình nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ thời điểm tiền cổ phần hóa (2004) đến sau tái cấu trúc (2011).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Chỉ số kỹ thuật thất thoát nước không có chuyển biến tích cực: Tỷ lệ nước không tạo doanh thu của Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn vẫn neo ở mức 42% - 43% trong giai đoạn 2005 - 2010, trong khi mức trung bình của ngành nước toàn quốc đã giảm từ 33% năm 2007 xuống 30% năm 2010, và mức trung vị thế giới là 31%. Năm 2010, tỷ lệ thất thoát của đơn vị đứng ở mức cao nhất cả nước.
  • Hệ số chi phí hoạt động gia tăng nghiêm trọng: Tỷ suất chi phí hoạt động trên doanh thu tăng mạnh từ 0,58 năm 2004 lên 0,74 năm 2007, đạt đỉnh 0,88 năm 2008 và duy trì ở mức 0,79 năm 2010. Con số này vượt xa tiêu chuẩn hiệu quả 0,7 do Ngân hàng Thế giới khuyến nghị, cho thấy tốc độ tăng chi phí vận hành nhanh hơn tốc độ tăng doanh thu.
  • Nghịch lý tài chính và cơ chế nợ nội bộ: Đợt phát hành cổ phiếu lần đầu huy động được khoảng 400 tỷ đồng thông qua chào bán 28 triệu cổ phần. Tuy nhiên, đến cuối năm 2008, các công ty cổ phần lại nợ ngược lại Tổng công ty mẹ số tiền lên tới 178 tỷ đồng. Trong khi các công ty cổ phần báo cáo lợi nhuận sau thuế tăng từ 3 đến 4 lần và chi trả cổ tức cao từ 10% đến 13%, gánh nặng tài chính phát triển mạng cấp 3 vẫn bị dồn lại cho doanh nghiệp mẹ.
  • Bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công: Tỷ lệ bao phủ chung tăng từ 66% năm 2004 lên 85% năm 2010. Mặc dù vậy, độ phủ tại khu vực nội thành cũ đạt 93%, trong khi khu vực đô thị mới chỉ đạt 57% và vùng ven chỉ đạt 22,6%. Tại huyện Nhà Bè, vẫn còn tới 35 điểm dân cư thiếu nước sạch sinh hoạt do các doanh nghiệp cổ phần không mặn mà đầu tư vào các địa bàn sinh lời thấp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ đường thể hiện khoảng cách phân kỳ giữa tỷ lệ thất thoát nước của thành phố (42%) so với xu hướng giảm của cả nước (30%), cùng bảng cân đối dòng tiền cho thấy các khoản vay nội bộ tăng dần qua từng năm. Nguyên nhân căn bản xuất phát từ việc thiếu chuẩn bị kỹ thuật trước khi chuyển đổi sở hữu:

  • Rào cản chia tách mạng thủy lực: Ranh giới quản lý giữa các công ty cổ phần được phân định theo địa giới hành chính thay vì các vùng tách mạng thủy lực độc lập. Do chưa lắp đặt đầy đủ đồng hồ tổng đo lưu lượng đầu vào tại ranh giới, giá nước bán buôn được tính dựa trên sản lượng nước ghi thu đầu ra của khách hàng. Cơ chế này triệt tiêu hoàn toàn động lực giảm rò rỉ đường ống của các công ty con.
  • So sánh quốc tế và bài học thể chế: Tình trạng này tương tự thất bại tại Cancún (Mexico) khi tư nhân hóa vội vã trong điều kiện thiếu giám sát hợp đồng và cơ chế giá thiếu minh bạch. Ngược lại, mô hình thành công của Manila Water (Philippines) và Công ty Cổ phần Cấp nước Bà Rịa - Vũng Tàu (đạt tỷ lệ phủ sóng 99%, hệ số hoạt động 0,44) chứng minh rằng việc giảm thất thoát nước và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phải được thực hiện trước khi cổ phần hóa.
  • Suy giảm năng lực điều tiết nhà nước: Thành phố nắm 51% vốn tại Tổng công ty mẹ, và đơn vị mẹ nắm khoảng 51% tại các công ty cổ phần, đồng nghĩa với việc chính quyền đô thị chỉ sở hữu gián tiếp khoảng 26% quyền biểu quyết. Để thông qua các quyết định đầu tư mạng lưới quan trọng đòi hỏi tỷ lệ biểu quyết từ 65% đến 75% theo Luật Doanh nghiệp 2005. Sự phân tán quyền lực này buộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phải ban hành Quyết định 408/UBND-CNN năm 2009 nhằm mua lại cổ phần để nâng mức sở hữu lên 75%.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tái lập quyền kiểm soát toàn diện đối với mạng lưới phân phối: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn cần khẩn trương thực hiện kế hoạch mua lại cổ phần tại 6 công ty cấp nước để đạt tỷ lệ chi phối tối thiểu 75%, hoặc đàm phán mua lại toàn bộ tài sản mạng lưới đường ống cấp 3. Lộ trình thực hiện cần hoàn tất trong thời gian từ 2 đến 3 năm nhằm thống nhất công tác quản trị kỹ thuật.
  • Hoàn thành phân vùng tách mạng thủy lực và lắp đặt đồng hồ tổng: Triển khai đầu tư đồng bộ các khu vực đồng hồ tổng đo lưu lượng độc lập cho toàn bộ các công ty phân phối. Mục tiêu cụ thể là kiểm soát và kéo giảm tỷ lệ nước không tạo doanh thu xuống dưới 30% theo Quy hoạch cấp nước đến năm 2025. Ban Quản lý dự án giảm thất thoát nước phối hợp các chuyên gia kỹ thuật quốc tế đẩy mạnh tiến độ trong giai đoạn 2013 - 2020.
  • Giới hạn phạm vi xã hội hóa vào các lĩnh vực phụ trợ và sản xuất: Chuyển dịch định hướng tham gia của khu vực tư nhân sang các hoạt động phi cốt lõi như tư vấn thiết kế, thi công xây lắp cơ khí, hoặc đầu tư nhà máy xử lý nước sạch theo hình thức BOT và BOO (như bài học vận hành hiệu quả tại Nhà máy nước Bình An và BOO Thủ Đức công suất 300.000 m3/ngày). Giữ nguyên quyền sở hữu và vận hành hạ tầng truyền tải, phân phối trong tay nhà nước.
  • Cải cách cơ cấu biểu giá nước và cơ chế bảo trợ người nghèo: Sở Tài chính tham mưu điều chỉnh giá nước theo lộ trình hướng tới bù đắp đủ chi phí vận hành và khấu hao từ sau năm 2013. Đồng thời, điều chỉnh định mức bậc thang sinh hoạt đầu tiên từ 4 m3/người/tháng xuống 2,5 - 3 m3/người/tháng để phản ánh đúng nhu cầu cơ bản, thiết lập cơ chế trợ cấp đấu nối trực tiếp cho 386.840 người nghèo và người nhập cư chưa có hộ khẩu thường trú.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và Sở Tài chính; sử dụng làm căn cứ thực tiễn để rà soát quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp công ích và xây dựng khung pháp lý về đối tác công - tư ngành nước.
  • Ban lãnh đạo các doanh nghiệp cấp thoát nước đô thị: Hội đồng thành viên, Ban Tổng giám đốc các công ty cấp nước trên toàn quốc; tham khảo bài học về quản trị tài sản mạng lưới, kiểm soát chi phí hoạt động và phân định ranh giới thủy lực trước khi tái cấu trúc.
  • Các tổ chức tài chính quốc tế và nhà đầu tư hạ tầng: Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á và các quỹ đầu tư tư nhân; khai thác tài liệu để đánh giá rủi ro thể chế, cấu trúc hợp đồng vận hành và cơ chế thu hồi chi phí trong các dự án đầu tư công.
  • Cộng đồng học thuật và nghiên cứu sinh: Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản lý đô thị; dùng làm nghiên cứu tình huống điển hình về tương tác giữa thất bại thị trường và thất bại chính phủ trong nền kinh tế chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

  • Tiến trình cổ phần hóa tại Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn có giúp kéo giảm tỷ lệ thất thoát nước không? Thực tế cho thấy cổ phần hóa không mang lại hiệu quả giảm thất thoát nước. Trong giai đoạn 2004 - 2010, tỷ lệ nước không tạo doanh thu của đơn vị luôn ở mức cao từ 40% đến 43%, đứng cao nhất cả nước vào năm 2010. Nguyên nhân chính là mạng lưới đường ống chưa được phân vùng thủy lực độc lập và cơ chế mua buôn nước tính trên sản lượng ghi thu thay vì lưu lượng thực tế qua đồng hồ tổng.

  • Tại sao các công ty cổ phần cấp nước đạt lợi nhuận cao nhưng mạng lưới cho người nghèo vẫn chậm mở rộng? Sau khi cổ phần hóa, các công ty phân phối chịu áp lực tối đa hóa lợi nhuận thương mại và chi trả cổ tức từ 10% đến 13%. Do việc mở rộng đường ống cấp 3 đến các vùng ven có mật độ dân cư thưa đòi hỏi vốn lớn nhưng khả năng thu hồi chậm, doanh nghiệp tư nhân ngần ngại đầu tư, khiến các khu vực khó khăn như huyện Nhà Bè vẫn tồn tại 35 điểm thiếu nước sạch.

  • Biểu hiện thất bại của chính phủ trong trường hợp này là gì? Thất bại thể hiện qua việc tiến hành cổ phần hóa khi chưa hoàn thiện khung pháp lý điều tiết và cơ sở hạ tầng kỹ thuật, duy trì giá nước dưới mức thu hồi chi phí trong nhiều năm, và làm suy giảm tỷ lệ sở hữu gián tiếp của nhà nước xuống khoảng 26%. Hậu quả là công ty mẹ phải gánh khoản nợ 178 tỷ đồng cho các công ty con.

  • Hình thức đối tác công - tư nào phù hợp nhất cho ngành cấp nước đô thị tại Việt Nam? Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng mô hình BOT hoặc BOO rất phù hợp cho khâu sản xuất tại các nhà máy nước mới. Đối với khâu phân phối và truyền dẫn, nhà nước cần duy trì sở hữu tài sản mạng lưới và chỉ nên áp dụng hợp đồng quản lý hoặc hợp đồng dịch vụ dựa trên hiệu suất để giảm rò rỉ nước.

  • Bài học kinh nghiệm quốc tế từ Cancún và Manila đóng góp gì cho nghiên cứu này? Trường hợp Cancún (Mexico) cảnh báo rủi ro đổ vỡ hợp đồng khi tư nhân hóa trong bối cảnh thiếu cơ quan điều tiết độc lập và quy hoạch yếu kém. Ngược lại, thành công của Manila Water (Philippines) khẳng định tầm quan trọng của việc tập trung nguồn lực giảm thất thoát nước, minh bạch quản trị và gắn kết trách nhiệm cung cấp nước cho người nghèo vào chiến lược hoạt động.

Kết luận

  • Cổ phần hóa các chi nhánh phân phối độc lập khi chưa chia tách mạng lưới thủy lực không giải quyết được vấn đề thất thoát nước mà còn làm tăng hệ số chi phí hoạt động lên mức 0,79 - 0,88.
  • Nguồn vốn tư nhân thu được từ đợt phát hành cổ phiếu (khoảng 400 tỷ đồng) không đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư hạ tầng 12.740 tỷ đồng, đồng thời tạo ra gánh nặng nợ vay nội bộ 178 tỷ đồng đối với công ty mẹ.
  • Tỷ lệ bao phủ cấp nước tăng lên 85% chủ yếu bắt nguồn từ chỉ tiêu hành chính của chính quyền, trong khi nhóm 386.840 người nghèo đô thị vẫn chịu thiệt thòi do rào cản chi phí đấu nối và động cơ tối đa hóa lợi nhuận của khối tư nhân.
  • Nhà nước cần duy trì quyền sở hữu và kiểm soát tập trung đối với hệ thống đường ống truyền tải và phân phối cấp 1, 2, 3 nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước và thực hiện mục tiêu phúc lợi xã hội.
  • Bất kỳ chương trình xã hội hóa ngành nước nào trong tương lai cũng đòi hỏi công tác đánh giá hiện trạng tài sản chuẩn xác, xây dựng biểu giá nước tiệm cận mức bù đắp chi phí và thiết lập khung giám sát pháp lý chặt chẽ.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về những bất cập thể chế trong việc thí điểm cổ phần hóa ngành cấp nước đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các cơ quan quản lý cần khẩn trương thực hiện lộ trình tái cấu trúc sở hữu chi phối 75%, hoàn thiện hệ thống phân vùng tách mạng và nâng cấp 330 - 350 km tuyến ống chính hướng tới mục tiêu cung cấp 200 lít/người/ngày vào năm 2025. Việc nghiên cứu thấu đáo những bài học đắt giá từ trường hợp này là bước đi không thể thiếu đối với các nhà hoạch định chính sách nhằm phát triển bền vững hạ tầng kỹ thuật đô thị tại Việt Nam.