Tổng quan nghiên cứu

Quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế tại Việt Nam từ năm 1986 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc sắp xếp, đổi mới khu vực kinh tế nhà nước. Trải qua hơn 20 năm thực hiện cổ phần hóa, các doanh nghiệp nhà nước đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, song khối doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang vẫn là một khu vực đặc thù với nhiều rào cản phức tạp. Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và giảm tải gánh nặng ngân sách, việc duy trì mô hình doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn nhà nước trong các lĩnh vực thương mại dân sinh thuần túy không còn phù hợp. Thực tế cho thấy nhiều đơn vị kinh tế vũ trang hoạt động kém hiệu quả, năng lực cạnh tranh thấp, chỉ duy trì nguồn thu ở mức tối thiểu để trang trải chi phí.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm rõ hệ thống cơ sở pháp lý, đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong Quân đội và Công an nhân dân giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2017. Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra các điểm nghẽn thể chế và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm đẩy nhanh tiến độ sắp xếp doanh nghiệp quân đội và công an. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đóng góp vào việc hoàn thiện khung pháp lý cho 56 đơn vị kinh tế vũ trang, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn và quỹ đất an ninh quốc phòng, tạo tiền đề thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa hai lý thuyết kinh tế - pháp lý nền tảng: Lý thuyết chuyển đổi quyền sở hữu và Lý thuyết kinh tế lưỡng dụng trong công nghiệp quốc phòng an ninh. Lý thuyết chuyển đổi sở hữu chỉ ra rằng việc chuyển từ cơ chế một chủ sở hữu nhà nước sang hình thức đa sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu sẽ tối ưu hóa quản trị công ty, xóa bỏ bao cấp và phân bổ nguồn lực xã hội hiệu quả. Song song với đó, lý thuyết kinh tế lưỡng dụng phân tích tính tương hỗ giữa năng lực sản xuất quân sự và thị trường dân sinh thương mại, tạo điều kiện cho các đơn vị quân đội và công an tự chủ tài chính.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  1. Doanh nghiệp quốc phòng, an ninh: Doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, thực hiện nhiệm vụ thường xuyên gắn liền với an ninh quốc gia theo Nghị định số 93/2015/NĐ-CP.
  2. Cổ phần hóa doanh nghiệp vũ trang: Quá trình chuyển đổi hình thức pháp lý từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
  3. Địa vị pháp lý kép của người lao động: Tình trạng pháp lý đặc thù khi quân nhân, sĩ quan vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động, vừa tuân thủ điều lệnh và kỷ luật của lực lượng vũ trang.
  4. Đất quốc phòng, an ninh sau cổ phần hóa: Tài sản công đặc biệt không được tính vào giá trị doanh nghiệp mà thực hiện theo cơ chế thuê đất trả tiền hàng năm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiếp cận toàn diện hệ thống dữ liệu thông qua cỡ mẫu khảo sát gồm 56 doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang, bao gồm 46 doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng và 10 doanh nghiệp thuộc Bộ Công an. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho danh mục các doanh nghiệp thuộc diện sắp xếp, đổi mới nhằm đảm bảo tính bao quát và phản ánh chính xác bức tranh thực tế của toàn ngành. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính chất khép kín và số lượng giới hạn của các đơn vị kinh tế vũ trang tại Việt Nam.

Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật ban hành từ năm 2005 đến năm 2017, kết hợp các báo cáo tài chính, báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích quy chuẩn pháp luật kết hợp phương pháp so sánh luật học đối chiếu kinh nghiệm cổ phần hóa của Liên bang Nga và Trung Quốc. Việc phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả giúp làm sáng tỏ những xung đột pháp lý giữa luật chung về doanh nghiệp và các quy định chuyên ngành quân sự, an ninh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng triển khai cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang giai đoạn 2005-2017 cho thấy sự phân hóa rõ rệt giữa hai khối Quân đội và Công an:

Thứ nhất, tiến độ cổ phần hóa tại Bộ Quốc phòng đạt được những kết quả cụ thể với 46 doanh nghiệp được phê duyệt chuyển đổi. Trong đó, giai đoạn 2003-2005 đã sắp xếp được 15 doanh nghiệp và giai đoạn 2005-2010 tiếp tục chuyển đổi 31 đơn vị. Sau khi cổ phần hóa, các chỉ tiêu kinh tế như doanh thu, lợi nhuận trước thuế và mức nộp ngân sách của nhiều công ty cổ phần đã tăng từ 15% đến 25% so với thời điểm trước chuyển đổi.

Thứ hai, tiến trình sắp xếp tại Bộ Công an gặp nhiều khó khăn khi tỷ lệ hoàn thành cổ phần hóa đạt 0% tính đến năm 2017. Toàn bộ 10 doanh nghiệp công an với khoảng 5.000 lao động (trong đó có 500 cán bộ, chiến sĩ hưởng lương ngân sách) vẫn đang trong giai đoạn thí điểm tái cơ cấu nội bộ và chưa có đơn vị nào hoàn tất phát hành cổ phiếu ra công chúng.

Thứ ba, việc xử lý tài sản đặc thù và quyền sử dụng đất bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý. Quy định hiện hành bắt buộc thu hồi 100% vũ khí, trang thiết bị quân sự và 100% biển số xe quân sự khi Nhà nước không còn nắm cổ phần chi phối. Đồng thời, 0% giá trị quyền sử dụng đất quốc phòng được tính vào giá trị xác định doanh nghiệp cổ phần hóa theo Thông tư số 31/2008/TT-BQP, dẫn tới thủ tục thuê đất kéo dài và phát sinh nhiều vướng mắc trong quản lý tài sản công.

+-------------------------------------------------------------------------------+
|                      TIẾN ĐỘ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP VŨ TRANG                 |
+---------------------+-------------------+------------------+------------------+
| Khối lực lượng      | Số lượng DN diện  | Số DN đã hoàn    | Tỷ lệ hoàn thành |
|                     | sắp xếp           | thành CPH        | (%)              |
+---------------------+-------------------+------------------+------------------+
| Doanh nghiệp        |                   |                  |                  |
| Bộ Quốc phòng       | 46 doanh nghiệp   | 46 doanh nghiệp  | 100%             |
+---------------------+-------------------+------------------+------------------+
| Doanh nghiệp        |                   |                  |                  |
| Bộ Công an          | 10 doanh nghiệp   | 0 doanh nghiệp   | 0%               |
+---------------------+-------------------+------------------+------------------+
| TỔNG CỘNG           | 56 doanh nghiệp   | 46 doanh nghiệp  | 82,14%           |
+---------------------+-------------------+------------------+------------------+

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch về tỷ lệ hoàn thành cổ phần hóa giữa Bộ Quốc phòng (100% danh mục phê duyệt) và Bộ Công an (0%) bắt nguồn từ ba nguyên nhân thể chế cốt lõi. Nguyên nhân thứ nhất là xung đột giữa Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hệ thống thông tư chuyên ngành về xử lý địa vị pháp lý kép của người lao động. Người lao động là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lo ngại việc mất phụ cấp thâm niên, chế độ quân trang và bảo hiểm xã hội lực lượng vũ trang khi chuyển sang hợp đồng lao động theo luật dân sự.

Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ quy trình tách bạch và định giá đất quốc phòng an ninh. Việc áp dụng Hướng dẫn số 2164/BQP ngày 26/5/2005 và Công văn số 1231/CP-ĐMDN ngày 12/9/2003 khiến các công ty sau cổ phần hóa không thể thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn thương mại.

Khi so sánh quốc tế, Liên bang Nga trong giai đoạn 1994-1997 đã cổ phần hóa thành công 421 doanh nghiệp và thành lập 50 công ty cổ phần quy mô lớn từ 1.700 xí nghiệp quốc phòng, nhưng gặp sai lầm do tư nhân hóa ồ ạt làm suy giảm năng lực công nghiệp quân sự. Ngược lại, Trung Quốc trong giai đoạn 1991-1995 đã hoàn thành chuyển đổi 13.500 doanh nghiệp nhà nước, chỉ tính riêng 700 doanh nghiệp niêm yết đã huy động 500 tỷ nhân dân tệ (tương đương 7,3% GDP năm 1996), áp dụng triệt để chính sách công nghệ lưỡng dụng. Bài học từ Trung Quốc chứng minh rằng việc giữ vững quyền kiểm soát nhà nước đối với lĩnh vực cốt lõi kết hợp thương mại hóa sản phẩm dân sự là hướng đi tối ưu cho Việt Nam. Dữ liệu này có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng doanh thu trước và sau cổ phần hóa, kết hợp bảng cân đối cơ cấu lao động biên chế và lao động hợp đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và bài học kinh nghiệm quốc tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý về định giá tài sản và đất đai quốc phòng, an ninh. Bộ Tài chính phối hợp cùng Bộ Quốc phòng và Bộ Công an ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn cơ chế chuyển đổi đất quốc phòng sang hình thức thuê đất trả tiền hàng năm trước quý IV năm 2018. Mục tiêu đạt 100% diện tích đất sản xuất kinh doanh được ký hợp đồng thuê đất minh bạch, loại bỏ hoàn toàn cơ chế giao đất không thu tiền đối với phần diện tích sản xuất ngoài nhiệm vụ quân sự.

Thứ hai, chuẩn hóa chính sách giải quyết lao động có địa vị pháp lý kép. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo lưu chế độ quân hàm, bảo hiểm xã hội và phụ cấp thâm niên trong thời hạn 05 năm theo tinh thần Thông tư số 114/2015/TT-BQP và Thông tư số 113/2016/TT-BQP. Đối với các đơn vị chuyển đổi trong giai đoạn 2018-2022, mục tiêu đảm bảo 100% quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng dôi dư được chi trả đầy đủ chế độ trợ cấp thôi việc hoặc chuyển đổi vị trí công tác phù hợp.

Thứ ba, cơ cấu lại tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước và áp dụng mô hình công nghệ lưỡng dụng. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giảm tỷ lệ nắm giữ vốn nhà nước xuống dưới 50% vốn điều lệ đối với các doanh nghiệp thuần túy thương mại, dịch vụ, xây lắp trước năm 2020. Đồng thời, cho phép các doanh nghiệp sản xuất khí tài lưỡng dụng được liên doanh, liên kết thu hút nguồn vốn tư nhân trong nước lên đến 49% vốn điều lệ.

Thứ tư, siết chặt kỷ cương quản trị và định danh doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an tiến hành thanh tra định kỳ 100% doanh nghiệp sau chuyển đổi, thu hồi triệt để con dấu, biển hiệu có cụm từ "Quân đội" hoặc "Bộ Quốc phòng" nếu chưa được phê duyệt bằng văn bản, bảo đảm tính bình đẳng tuyệt đối trên thị trường kinh doanh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo chuyên sâu và cung cấp các giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tham mưu chính sách: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp cùng Bộ Tài chính có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu để xây dựng quy chuẩn quản lý 56 doanh nghiệp vũ trang và hoàn thiện nghị định thay thế Nghị định số 59/2011/NĐ-CP.
  2. Ban lãnh đạo doanh nghiệp và người đại diện phần vốn nhà nước: Đội ngũ hơn 500 cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp quân đội, công an có thể áp dụng các bước trong quy trình xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) và tái cơ cấu lao động dôi dư.
  3. Chuyên gia tư vấn pháp lý, luật sư và nhà nghiên cứu học thuật: Các tổ chức hành nghề luật và viện nghiên cứu kinh tế có thể khai thác hệ thống dữ liệu so sánh luật học giữa Việt Nam, Nga và Trung Quốc để phục vụ công tác nghiên cứu, đào tạo chuyên ngành Luật Kinh tế.
  4. Nhà đầu tư chiến lược và các tổ chức tài chính: Các quỹ đầu tư tư nhân trong và ngoài nước có thể nắm bắt rõ khung pháp lý, nhận diện tiềm năng từ quỹ đất và công nghệ lưỡng dụng tại các doanh nghiệp cổ phần hóa để xây dựng chiến lược mua lại cổ phần an toàn, đúng luật.

Câu hỏi thường gặp

  1. Doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang có những điểm đặc thù nào so với doanh nghiệp nhà nước thông thường? Doanh nghiệp vũ trang là doanh nghiệp do Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an quản lý, trực tiếp phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo Nghị định số 93/2015/NĐ-CP. Các đơn vị này được hưởng cơ chế miễn giảm thuế sử dụng đất an ninh quốc phòng, được Nhà nước hỗ trợ kinh phí bảo dưỡng dây chuyền khi tạm dừng sản xuất và có người lao động mang cấp bậc hàm sĩ quan hoặc quân nhân chuyên nghiệp.

  2. Quyền sử dụng đất quốc phòng được xử lý như thế nào khi doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa? Theo quy định tại Thông tư số 31/2008/TT-BQP và Thông tư số 127/2014/TT-BTC, giá trị quyền sử dụng đất quốc phòng không được tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa. Sau khi chuyển đổi thành công ty cổ phần, nếu tiếp tục sử dụng khu đất đó, doanh nghiệp phải thực hiện thủ tục chuyển sang thuê đất của Nhà nước hoặc Bộ Quốc phòng và nộp tiền thuê đất hàng năm theo quy định.

  3. Người lao động là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp được hưởng chế độ gì sau khi doanh nghiệp hoàn thành cổ phần hóa? Căn cứ Thông tư số 114/2015/TT-BQP, đối với doanh nghiệp Nhà nước còn nắm giữ cổ phần, người lao động là quân nhân được bảo lưu toàn bộ chế độ quân đội, lương theo cấp bậc, phụ cấp thâm niên và bảo hiểm y tế trong thời hạn tối đa 05 năm. Sau thời gian này, người lao động sẽ được giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc chuyển sang giao kết hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động.

  4. Công ty cổ phần sau chuyển đổi có được tiếp tục sử dụng biển số xe quân sự và danh xưng Quân đội không? Theo quy định tại Thông tư số 31/2008/TT-BQP, các công ty cổ phần mà Nhà nước không còn nắm giữ cổ phần chi phối bị thu hồi 100% biển số quân sự và phải đăng ký biển số dân sự. Trong tên gọi, con dấu và văn bản giao dịch thương mại, công ty tuyệt đối không được sử dụng cụm từ "Quân đội" hoặc "Bộ Quốc phòng" trừ khi có văn bản chấp thuận đặc biệt từ cơ quan có thẩm quyền.

  5. Việt Nam có thể rút ra bài học gì từ mô hình cổ phần hóa công nghiệp quốc phòng của Nga và Trung Quốc? Kinh nghiệm từ việc Nga cổ phần hóa 421 doanh nghiệp và Trung Quốc chuyển đổi 13.500 doanh nghiệp cho thấy Việt Nam cần tránh tư nhân hóa ồ ạt dẫn đến thất thoát công nghệ quốc phòng cốt lõi. Đồng thời, cần chủ động áp dụng chính sách công nghệ lưỡng dụng, cho phép thương mại hóa sản phẩm dân sinh và liên doanh hợp tác quốc tế để tự chủ tài chính cho các đơn vị vũ trang.

Kết luận

  • Luận văn làm sáng tỏ hệ thống lý luận và khung pháp lý điều chỉnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang tại Việt Nam.
  • Công trình đánh giá toàn diện sự tương phản trong kết quả thực thi giữa Bộ Quốc phòng (hoàn thành 46 doanh nghiệp) và Bộ Công an (0 doanh nghiệp hoàn thành).
  • Phân tích sâu sắc bài học kinh nghiệm tái cơ cấu doanh nghiệp quốc phòng từ Liên bang Nga với 50 công ty cổ phần và Trung Quốc với 13.500 doanh nghiệp chuyển đổi thành công.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm về xử lý đất đai, giải quyết địa vị pháp lý kép của lao động và thoái vốn nhà nước xuống dưới 50% trong giai đoạn 2018-2022.
  • Nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học vững chắc giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách, thúc đẩy 100% doanh nghiệp diện sắp xếp hoàn tất chuyển đổi đúng lộ trình.