phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc trong lực lƣợng vũ trang. Chƣơng 2: Thực trạng thi hành pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc trong lực lƣợng vũ trang. Chƣơng 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc trong lực lƣợng vũ trang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG LỰC LƢỢNG VŨ TRANG 1. Những vấn đề lý luận chung về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc 1.
Quan điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam Theo quan điểm của các quốc gia đã tiến hành CPH nhƣ các nƣớc Đông Âu và Liên Xô cũ… thì việc xem xét vấn đề CPH DNNN đều đặt nó trong một quá trình rộng lớn hơn, đó là quá trình tƣ nhân hóa. Tƣ nhân hóa theo nhƣ định nghĩa của Liên Hợp quốc là sự biến đổi tƣơng quan giữa Nhà nƣớc và thị trƣờng trong đời sống kinh tế của một nƣớc ƣu tiên thị trƣờng. Theo cách hiểu này thì toàn bộ chính sách, thể chế, luật lệ đều nhằm khuyến khích, mở rộng khu vực phát triển kinh tế tƣ nhân hay các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, giảm bớt quyền sở hữu và sự can thiệp trực tiếp của Nhà nƣớc vào các hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở, dành cho thị trƣờng vai trò điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua tự do giá cả, tự do lựa chọn đối tác và ngành nghề kinh doanh [22, tr 13]. Quan niệm về cổ phần hóa của Trung Quốc: Trung Quốc dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin để tiến hành chuyển hóa DNNN; coi CPH là bộ phận hữu cơ trong tổng thể đổi mới DNNN, luôn khẳng định đây là con đƣờng tìm kiếm hiệu quả kinh doanh chứ không phải là tìm kiếm các hình thức sở hữu khác nhau; đổi mới DNNN là khâu then chốt của cải cách kinh tế, coi tiền đề của cải cách là xây dựng đồng bộ cơ chế thị trƣờng.
Mục đích căn bản của việc thực hiện CPH DNNN ở Trung Quốc là thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà ở đó trƣớc đây, Nhà nƣớc luôn giữ vai trò độc quyền, để hình thành nên kết cấu đa dạng về quyền sở hữu tài sản trong 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nội bộ DN, tối ƣu hóa kết cấu quản trị DN. Đây là lợi ích căn bản và lâu dài nhất của việc cải cách, CPH các DNNN ở Trung Quốc [32, tr 27-28]. Quan niệm về cổ phần hóa của một số nước ASEAN: Một số nƣớc ASEAN nhƣ Brunei, Singapore, Malaisia là các nƣớc có nền kinh tế tăng trƣởng nhanh và tƣơng đối ổn định. Các DNNN hoạt động theo cơ chế thị trƣờng là chính chỉ có một bộ phận nhỏ là hoạt động công ích, chính vì vậy hiệu quả kinh doanh đƣợc đặt lên hàng đầu.
Nếu các DNNN mà hoạt động không hiệu quả thì sẽ bị giải thể hoặc phá sản. Mục đích chính của CPH ở các nƣớc ASEAN là: Nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh tế Nhà nƣớc nói riêng, của toàn bộ nền kinh tế nói chung, xây dựng lại cơ cấu kinh tế theo hƣớng ƣu tiên kinh tế tƣ nhân, tạo môi trƣờng kinh doanh tích cực đảm bảo công bằng giữa các thành phần kinh tế, xóa bỏ một phần lối kinh doanh độc quyền kém hiệu quả của kinh tế nhà nƣớc, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nƣớc. Singapore và Malaisia là hai nƣớc tƣơng đối thành công trong CPH DNNN [22, tr 15]. Chủ trƣơng CPH DNNN ở nƣớc ta lần đầu tiên đã đƣợc đề cập trong Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ƣơng (BCH TW) khóa VII tháng 11/1991: “Chuyển một số DN quốc doanh có điều kiện thành CTCP và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trƣớc khi mở rộng phạm vi thích hợp”.
Tổng kết sau 6 năm thực hiện CPH và đánh giá những kết quả bƣớc đầu đạt đƣợc, Bộ Chính trị đã có Thông báo số 63/TB-TW về triển khai tích cực, vững chắc việc CPH DNNN. Tƣ tƣởng chỉ đạo cơ bản của Văn bản là CPH phải xuất phát từ yêu cầu phát triển DNNN, phải làm cho tiềm lực kinh tế của Nhà nƣớc tăng lên, có chính sách khuyến khích cán bộ và công nhân trong DN mua cổ phần, hỗ trợ cho công nhân nghèo mua cổ phần. Có thể thấy quan điểm của Đảng về CPH DNNN là tạo ra loại hình DN vốn chỉ có một chủ sở hữu là Nhà nƣớc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo ngƣời lao động và tƣ nhân tham gia và mục tiêu của CPH DNNN không phải là để tƣ nhân hóa DNNN – tức là xóa bỏ DNNN hay không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nƣớc trong nền kinh tế quốc dân, mà là để tạo ra một loại hình DN có nhiều chủ sở hữu nhằm vừa sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nƣớc vừa huy động thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; vừa tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả cho DNNN vừa phát huy vai trò làm chủ thật sự của ngƣời lao động, của cổ đông và tăng cƣờng sự giám sát của xã hội đối với DN, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nƣớc, DN và ngƣời lao động. Hội nghị lần thứ 3 BCH TW (khóa IX) tháng 8/2001 đã ra Nghị quyết về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN, tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh CPH những DN mà Nhà nƣớc không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN”.
Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH TW (khóa IX) tháng 2/2005 thì quan điểm của Đảng về CPH càng thông thóa hơn “Đẩy nhanh tiến độ CPH và mở rộng diện các DNNN cần CPH, kể cả một số công ty và DN lớn. giá trị tài sản DNNN thực hiện CPH, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất, về nguyên tắc phải do thị trƣờng quyết định. Việc mua bán cổ phiếu phải công khai trên thị trƣờng, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN. Tăng cƣờng chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết công tác CPH; kịp thời rút kinh nghiệm, uốn nắn những lệch lạc, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện ngày càng tốt hơn”.
Những Nghị quyết này đã tạo nên tiền đề chính trị vững chắc cho tiến trình CPH DNNN ở nƣớc ta, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về CPH, đó là cần thiết phải CPH DNNN song song với việc giữ vững nền tảng của Chủ nghĩa xã hội là vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nƣớc. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ các quan điểm của Đảng về CPH DNNN, tiến trình CPH DNNN tại Việt Nam đã đƣợc triển khai thực hiện và chia thành 3 giai đoạn nhƣ sau: Giai đoạn thí điểm CPH (từ năm 1992 - 5/1996): Giai đoạn này kéo dài 4 năm nhƣng chỉ CPH đƣợc 05 DN; Giai đoạn mở rộng thí điểm CPH (5/1996 – 6/1998): Cả nƣớc đã CPH đƣợc 123 DN. Tuy nhiên so với yêu cầu đổi mới và số lƣợng DN trong diện CPH thì kết quả là quá thấp, tốc độ CPH chậm; Giai đoạn 3 (từ 1998 đến nay): Đây là giai đoạn cho phép đẩy mạnh CPH. CPH đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm, tập trung nhiều nhất không chỉ trong hoạch định chiến lƣợc mà cả trong cơ chế, chính sách nhằm làm cho quá trình CPH đạt đƣợc những kết quả tốt nhất.
Nói tóm lại, quan niệm về cổ phần hóa của các quốc gia đều hƣớng tới nội dung chung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cổ phần hóa chính là phƣơng thức thực hiện xã hội hóa sở hữu – Chuyển hình thức kinh doanh từ một chủ sở hữu là DNNN thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp hơn với nền kinh tế thị trƣờng và đáp ứng đƣợc nhu cầu của kinh doanh hiện đại. Mặc dù CPH DNNN là một vấn đề không còn mới nhƣng vẫn rất phức tạp đối với Việt Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm CPH DNNN của các nƣớc trên thế giới đặc biệt là các nƣớc có điều kiện tƣơng đồng nhƣ: Trung Quốc, Nga, các nƣớc ASEAN để tìm kiếm kinh nghiệm có thể vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam là vô cùng quan trọng.
Khái niệm và đặc điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang 1. Doanh nghiệp nhà nước trong lực lượng vũ trang Doanh nghiệp nhà nƣớc trong lực lƣợng vũ trang còn đƣợc biết đến với tên gọi khác là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh là doanh nghiệp nhà nƣớc 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc thành lập hoặc tổ chức lại để thực hiện các nhiệm vụ mang tính ổn định, thƣờng xuyên trong những ngành, lĩnh vực, địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh hoặc bảo đảm bí mật và an ninh quốc gia [14, Điều 3]. Doanh nghiệp đƣợc xác định là doanh nghiệp quốc phòng, an ninh phải bảo đảm các điều kiện sau: Là doanh nghiệp nhà nƣớc thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an. Có ngành, lĩnh vực hoạt động quy định tại Phụ lục về Danh mục ngành, lĩnh vực hoặc địa bàn trực tiếp phục vụ quốc phòng, an ninh ban hành kèm theo Nghị định.
Đƣợc cơ quan có thẩm quyền giao nhiệm vụ sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ quốc phòng, an ninh hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ổn định, thƣờng xuyên bằng nguồn lực của Nhà nƣớc hoặc nguồn lực của doanh nghiệp phù hợp với mục tiêu đầu tƣ, thành lập doanh nghiệp.