CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần Trước đây, khái niệm về CTCP được quy định tại Điều 2 Luật Công ty năm 1990, để nhằm khắc phục những nhược điểm của Luật Công ty năm 1990, kế thừa những quy định về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014, tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về công ty cổ phần như sau: “1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần ….
Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty”1. Có thể thấy rằng công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp, trong đó các cổ đông đóng góp vốn kinh doanh và chịu trách nhiệm trong phạm vi phần góp vốn của mình trên cơ sở tự nguyện để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. CTCP có những đặc trưng cơ bản về sở hữu, cơ cấu tổ chức quản lý và phân phối. CTCP có khả năng huy động thêm nguồn vốn một cách dễ dàng, không chỉ thông qua việc phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện tại mà còn thông qua việc phát hành cổ phiếu mới.
Việc tăng vốn bằng cách này giúp cho công ty có khả năng huy động nguồn vốn lớn và nhanh chóng hơn so với việc tăng vốn bằng lợi nhuận không chia. Do đó, cơ cấu của CTCP đặc trưng bởi việc vốn của nó được hình thành từ sự đóng góp của các cổ đông thông qua việc mua cổ phần do công ty phát hành. 1 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 6 Việc định nghĩa công ty cổ phần của Luật Doanh nghiệp năm 2020 là khá đầy đủ và rõ ràng cả về mặt hình thức và nội dung. Từ đó, có thể thấy CTCP có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, công ty cổ phần là công ty có tính chất đối vốn.
Công ty có tính chất đối vốn luôn đặt lên hàng đầu, vừa là nền tảng để hình thành nguyên tắc tổ chức quản lý công ty. Thứ hai, công ty cổ phần phải có tối thiếu 03 thành viên tham gia trong suốt quá trình hoạt động. Thứ ba, công ty cổ phần mang tính tự do chuyển nhượng cổ phần là một đặc trưng chủ yếu của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác. Thứ tư, công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
Thứ năm, vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. CTCP mang lại nhiều ưu điểm như: (i) Hấp dẫn vốn xã hội đầu tư vào hoạt động kinh doanh; (ii) Mở rộng quy mô sản xuất một cách nhanh chóng; (iii) Thúc đẩy quá trình xã hội hóa sản xuất và thu hút nguồn nhân lực xã hội hóa vào quản lý; (iv) Tạo ra cơ chế phân bổ rủi ro và tạo điều kiện cho sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Vì vậy, CTCP có khả năng tồn tại ổn định do vốn cổ đông góp mà không phụ thuộc vào một cá nhân hay một tổ chức nào. Ở Việt Nam, CTCP đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và cống hiến cho việc hoàn thiện cơ chế thị trường trong bối cảnh quản lý theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp Nhà nước Theo quy định tại khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 7 của Luật này”2. Đây là một quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2020, vì Luật Doanh nghiệp 2014 quy định mức vốn điều lệ mà Nhà nước sở hữu trong DNNN là 100% (Theo khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Theo quy định của pháp luật, hiện nay có các loại hình DNNN như sau: (i) Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; (ii) Công ty TNHH hai thành viên trở lên do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ và (iii) Công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. So với quy định của pháp luật trước đây DNNN chỉ tồn tại dưới dạng DNNN độc lập hoặc tổng công ty nhà nước thì hiện nay DNNN có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau.
Chính sự đa dạng về hình thức tồn tại của DNNN sẽ làm sinh động thành phần kinh tế công, làm cho nó thích ứng hơn với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, có thể thấy DNNN có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ. Đặc điểm này thẩm quyền kiểm soát, quản lý, vận hành hoạt động doanh nghiệp của Nhà nước trong công ty vẫn được giữ nguyên. Thứ hai, DNNN là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc CTCP DNNN hiện nay không chỉ tồn tại dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, mà tồn tại ở cả công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên.
Thứ ba, DNNN hiện nay được phát hành cổ phần. Thứ tư, DNNN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân kể từ khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chế độ trách nhiệm tài sản là chế độ trách nhiệm hữu hạn và tài sản của DNNN là bộ phận của tài sản Nhà nước. 2 Khoản 11 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 8 1. Khái niệm, đặc điểm của cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam Có thể thấy rằng, cổ phần hoá là một trong những biện pháp để tổ chức, cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
Cụ thể, cổ phần hoá trong doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi sở hữu từ việc nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ của doanh nghiệp sang việc doanh nghiệp có đa dạng người sở hữu, bao gồm cả người lao động trong doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác thông qua việc thành lập công ty cổ phần. Theo hình thức, CPH là quá trình nhà nước chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp cho các tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước hoặc cho cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp thông qua đấu giá công khai hoặc thông qua thị trường chứng khoán để tạo ra các công ty cổ phần. Xét về bản chất kinh tế, CPH là việc Nhà nước giữ nguyên vốn hiện có trong doanh nghiệp nhưng phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, hoặc bán bớt một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần của mình trong doanh nghiệp cho các đối tượng là tổ chức hoặc cá nhân trong và ngoài nước. Xét về mặt cấu trúc sở hữu, CPH là quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN, chuyển doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà nước thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu với mục đích bảo đảm sự tồn tại và phát triển không ngừng của doanh nghiệp theo sự phát triển của kinh tế xã hội.
Mặt khác, CPH là việc biến doanh nghiệp một chủ thành doanh nghiệp của nhiều chủ, tức là chuyển từ hình thức sở hữu đơn nhất sang sở hữu chung thông qua việc chuyển một phần tài sản của doanh nghiệp cho những người khác. Những người này trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp theo tỷ lệ tài sản mà họ sở hữu trong doanh nghiệp CPH. Có thể thấy đặc điểm của cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi mô hình doanh nghiệp từ DNNN thành công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là một DNNN sau khi đã hoàn tất quy trình cổ phần hoá thì doanh nghiệp đó sẽ chuyển sang loại hình công ty cổ phần, chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, trong đó Nhà nước có thể là một cổ đông.
Khi đã chuyển đổi hình thức sở hữu tài sản thì địa vị 9 pháp lý của doanh nghiệp đó phải hoàn toàn tuân theo quy định của pháp luật về công ty cổ phần và như vậy toàn bộ vấn đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp từ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến quy chế pháp lý về thành lập, giải thể, phá sản cũng như quản lý vốn của các chủ sở hữu trong công ty cổ phần phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật doanh nghiệp. Cổ phần hoá là quy trình chia vốn của các doanh nghiệp nhà nước ra thành các cổ phần, trong đó một phần được bán cho tư nhân hoặc phân phát cho người lao động, còn phần còn lại được sở hữu bởi Nhà nước. Cổ phần hoá thực chất là tư nhân hoá từng phần của các doanh nghiệp công, và nhiều quốc gia đánh giá nó là một trong những phương thức tập trung tư nhân hoá trong quá trình cải cách kinh tế công. Ở Việt Nam, đợt cải cách DNNN đầu tiên bắt đầu vào năm 1989.
Các DNNN thua lỗ nặng bị giải thể, các doanh nghiệp còn lại được sắp xếp lại thông qua sáp nhập và củng cố lại. Đến năm 1992, Chính phủ quyết định thực hiện thí điểm cổ phần hóa. Tuy nhiên, làn sóng cổ phần hóa ở nước ta thực sự chỉ bắt đầu từ giữa năm 1998 sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP của Chính phủ được ban hành. Việc cổ phần hóa đã phần nào thành công trong việc chuyển quyền sở hữu của một số lượng lớn các DNNN sang những hình thức sở hữu hiệu quả hơn.
Tuy nhiên, chương trình này vẫn còn rất nhiều điều bất cập. Đầu tiên có thể thấy rằng đó là tiến độ cổ phần hóa chậm, hơn nữa việc cổ phần hóa ở Việt Nam có tính từng phần và nội bộ rất cao. Bên cạnh đó, việc Nhà nước và cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp cùng nhau nắm giữ phần lớn cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hóa là hiện tượng phổ biến. Theo quan điểm của tác giả về việc kết quả là cổ phần hóa chưa thu hút được vốn đầu tư từ những nhà đầu tư chiến lược bên ngoài, vì vậy hầu như không được cải thiện và đây là một nguy cơ tiềm tàng của hậu cổ phần hóa, hơn giá trị thực và do cổ phần hóa mang nặng tính khép kín, nội bộ, đồng thời sự thiếu minh bạch trong quá trình cổ phần hóa.
Thực trạng pháp luật về nguyên tắc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Thứ nhất, bảo toàn vốn thuộc sở hữu của Nhà nước, bảo vệ lợi ích quốc gia trong tiến trình cổ phần hóa.