Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN đã cổ phần hóa. Chương 3: Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN đã cổ phần hóa tại TPHCM. Chương 4: Phƣơng pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các DNNN đã cổ phần hóa tại TPHCM.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DNNN ĐÃ CỔ PHẦN HÓA 2. Doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa: 2. Khái niệm DNNN đã CPH: DNNN đã cổ phần hóa là các Công ty Cổ phần đã đƣợc chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc, là doanh nghiệp có vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng tối đa; cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
(Quốc hội, 2014) DNNN đã cổ phần hóa có các loại hình sau: - DN có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nƣớc (chiếm trên 50% vốn điều lệ) thì Nhà nƣớc nắm giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó. - DN có một phần vốn của Nhà nƣớc (chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống) thì Nhà nƣớc không có quyền chi phối đối với doanh nghiệp. Vai trò của CPH đối với DNNN: Theo nghị định 59/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18 tháng 7 năm 2011, việc chuyển đổi những DNNN sang loại hình công ty cổ phần có nhiều chủ sở hữu nhằm: - Huy động vốn từ các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phƣơng thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp tận dụng đƣợc nguồn vốn để đầu tƣ, mở rộng thêm các ngành nghề khác với quy mô lớn hơn; - Bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nƣớc, doanh nghiệp, nhà đầu tƣ và ngƣời lao động trong doanh nghiệp.
Các cổ đông, ngƣời lao động tích cực làm việc đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp, nhà nƣớc và cũng là làm giàu cho chính mình. Do đó, trách nhiệm với công việc đƣợc nâng cao hơn. 7 - Công khai thông tin tổ chức hoạt động và tài chính của doanh nghiệp theo nguyên tắc thị trƣờng, khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp, gắn với phát triển thị trƣờng vốn, thị trƣờng chứng khoán. Việc kiểm tra, giám sát của các cổ đông tại DNNN đã cổ phần hóa góp phần giúp tài chính doanh nghiệp lành mạnh, minh bạch hơn.
Đặc điểm DNNN đã CPH: Hoạt động của DNNN đã cổ phần hóa đƣợc điều chỉnh bởi luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội. Theo nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phúc (2014) thì các DNNN sau khi cổ phần hóa có những thay đổi cơ bản về cấu trúc vốn, bộ máy tổ chức quản lý và cơ chế phân chia lợi nhuận và rủi ro. Ngoài ra, vai trò của Nhà nƣớc và ngƣời lao động trong doanh nghiệp cũng có sự khác biệt so với doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc. Vốn: Vốn của DNNN đã CPH không còn 100% vốn của chủ sở hữu nhà nƣớc, mà là vốn góp từ các cổ đông (có thể là tổ chức, cá nhân; số lƣợng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lƣợng tối đa).
Doanh nghiệp có thể huy động vốn trong công chúng dƣới hình thức phát hành cổ phiếu. Do đó, có thể tận dụng đƣợc nguồn vốn huy động để thực hiện những dự án kinh doanh đòi hỏi nhiều vốn đầu tƣ và dễ dàng chuyển nhƣợng vốn khi có nhu cầu. Bộ máy tổ chức và quản lý: DNNN đã CPH có quyền lựa chọn tổ chức và hoạt động theo một trong hai mô hình đƣợc quy định tại điều 134 luật Doanh nghiệp 2014. Bộ máy quản lý tổ chức của DNNN đã CPH thƣờng bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc/Tổng Giám đốc và Ban Kiểm soát.
Quyền hạn, nghĩa vụ của từng bộ phận đƣợc quy định rõ ràng theo luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty. Cán bộ quản lý đƣợc bầu chọn công khai, có hạn định theo nhiệm kỳ, trên cơ sở tôn trọng quyền tự quyết của cổ đông và thông qua đại hội đồng cổ đông - cơ quan quản trị cao nhất 8 của DN đã CPH. Khác với DN 100% vốn nhà nƣớc, cán bộ quản lý đƣợc chủ sở hữu nhà nƣớc bổ nhiệm. Phân chia lợi nhuận và rủi ro: Cổ đông của DNNN đã CPH đƣợc trả cổ tức và chịu rủi ro tƣơng ứng với tỷ lệ vốn góp của mình.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN. Đối với các cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông, cổ tức đƣợc xác định căn cứ vào lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức đƣợc trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Do đó, tạo ra áp lực lớn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao hiệu quả kinh doanh để đảm bảo lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho các cổ đông, cho doanh nghiệp. Khác với các DNNN trƣớc CPH thƣờng có tâm lý “ỷ lại” vì khi DN hoạt động thua lỗ thì Nhà nƣớc có thể cấp vốn để DN tiếp tục hoạt động.
Nguồn lao động: Ngƣời lao động làm việc tại DNNN đã CPH có thể là cổ đông của DN, gắn chặt quyền lợi của mình với DN. Vì vậy, tạo động lực cho ngƣời lao động có ý thức trách nhiệm, năng động, sáng tạo và lao động hiệu quả hơn vì lợi ích của DN cũng chính là lợi ích của chính mình. Ngƣời lao động có thể đƣợc chuyển từ DNNN trƣớc CPH sang hoặc đƣợc tuyển dụng mới. Tuy nhiên, nếu DN 100% vốn nhà nƣớc khó sa thải ngƣời lao động vì các thỏa ƣớc lao động theo biên chế nhà nƣớc thì ngƣời lao động tại DNNN đã CPH có thể dễ dàng bị thôi việc hơn nếu không đáp ứng đƣợc yêu cầu công việc, kỷ luật tại doanh nghiệp.
Vai trò của nhà nƣớc: Việc chuyển đổi DN 100% vốn nhà nƣớc thành công ty cổ phần nhằm đa dạng hóa sở hữu và đã làm giảm tính độc tôn của sở hữu nhà nƣớc. Tùy vào tỷ lệ sở hữu vốn nhà nƣớc tại DNNN đã CPH mà vai trò của Nhà nƣớc trong các quyết định của doanh nghiệp có thể khác nhau. Nhà nƣớc chỉ nắm giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp khi sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Tuy nhiên, nhà nƣớc quản lý gián tiếp thông qua pháp luật, quy định, chính sách và DNNN đã CPH vẫn có quyền tự 9 chủ trong hoạt động kinh doanh.
Khác với DN 100% vốn nhà nƣớc, chủ sở hữu nhà nƣớc vừa điều hành, quản lý và ra quyết định đối với mọi hoạt động của doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 2. Khái niệm: Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một vấn đề đƣợc các nhà kinh tế và quản lý kinh tế rất quan tâm. Mọi hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hƣớng tới mục tiêu hiệu quả và mong muốn làm thế nào để một đồng vốn bỏ vào kinh doanh mang lại hiệu quả cao nhất, khả năng sinh lời nhiều nhất.
Vậy hiệu quả hoạt động kinh doanh là gì? Theo quan điểm của tác giả Bùi Xuân Phong (2010): “Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc kết quả của mục tiêu hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh”. Tác giả Nguyễn Năng Phúc (2013) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế phản ánh trình độ sử dụng nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. Đó là thƣớc đo chất lƣợng phản ánh trình độ tổ chức, quản lý kinh doanh để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu khác cho rằng: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt đƣợc và chi phí bỏ ra để đạt đƣợc kết quả đó.
Hay hiệu quả kinh doanh là lợi ích tối đa thu đƣợc trên chi phí tối thiểu, là quan hệ tỷ lệ giữa kết quả với những điều kiện, nhân tố chi phí vật chất sử dụng để đạt đƣợc kết quả theo mục đích của quá trình đó. (Đoàn Ngọc Phúc, 2014; Nguyễn Thị Thu Phƣơng, 2016;) Trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp cũng cho thấy, tất cả những đổi mới về phƣơng thức, chất lƣợng của công tác quản trị chỉ thực sự có ý nghĩa khi làm tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Từ các quan điểm, các nghiên cứu đã có trƣớc đây, tác giả luận văn đƣa ra khái niệm: “Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế, phản ánh 10 trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có nhằm tối đa hóa kết quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tối ưu hóa chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: Trƣớc tiên, có rất nhiều chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc sử dụng chỉ tiêu nào để đánh giá hiệu quả là vấn đề quan trọng và cần thiết đối với nhà quản trị doanh nghiệp và nhà đầu tƣ. Theo tổng hợp các nghiên cứu trƣớc, các chỉ tiêu thƣờng đƣợc sử dụng để đo lƣờng hiệu quả hoạt động kinh doanh có thể chia thành hai loại chính: các hệ số giá trị kế toán hay còn gọi là hệ số về lợi nhuận và các hệ số giá trị thị trƣờng. Nhóm hệ số về lợi nhuận: Phản ánh một yếu tố đơn vị đầu vào hay đầu ra thì mang lại mấy đơn vị lợi nhuận. Tỷ số sinh lợi đo lƣờng thu nhập của doanh nghiệp với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận nhƣ doanh thu, tổng tài sản, vốn chủ sở hữu… (trị số của chỉ tiêu này càng lớn thì khả năng sinh lợi càng lớn, hiệu quả kinh doanh càng cao và ngƣợc lại) (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007).