CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU CÓ LIEN QUAN VÀ MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE CO PHAN HÓA DNNN 1. Tông quan các công trình nghiên cứu có liền quan dén dé tài Liên quan đến đề tài cổ phần hóa các DNNN đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, theo phạm vi nghiên cứu khác nhau. Các công trình nghiên cứu về cổ phần hóa chủ yếu đề cập đến đổi mới cơ chế nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các DNNN sau cô phấn hóa. Tuy nhiên, đi sâu nghiên cứu vảo thành tựu và hạn chế của việc cô phần hóa mới chỉ đề cập đến một phần riêng lẻ.
Một số công trình khoa học, hội thao, bai viết đã được công bô như: - Tháng 12 năm 2014, Công ty cô phần Tư vấn - Dau tư Sao Vàng đã tổ chức hội thảo “Cơ hội đầu tư vào DNNN thoái vốn”. Hội thảo đã được các nhà khoa học, quản lý trong và ngoài nước trình bày nhiều tham luận làm rõ hơn thực trạng DNNN trong giai đoạn hiện nay, phân tích thuận lợi, khó khăn, bất cập trong việc đầu tư vào các DNNN thoái vốn. - Tháng 11 năm 2014, tại Hà Nội, Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông, Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Viện Phát triển xã hội thông tin Hàn Quốc tổ chức Hội thảo “Cổ phan hóa doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực viễn thông - những bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất cho Việt Nam”. Trong bài trình bày tại Hội thảo, TS.
Im Gon Cho đã trình bay các nội dung như: Cơ sở lý thuyết của việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; kinh nghiệm cổ phan hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực viễn thông ở các nước trên thế giới như ở Anh, Đức, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc. Vai tro của viễn thông trong phát trién kinh tế ở các nước trên thế giới; các văn bản pháp ly vê cô phan hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam; các đê xuât cho việc cô phần hóa VNPT và Mobifone trong thời gian tới. - Luận án “Nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp ra đời từ cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước” của Phạm Thị Huyền, trường Đại học Thương Mại năm 2009. Trong luận án đã nêu cơ sở lý luận về cô phần hóa, cơ sở thực tiễn CPH ở nước ta trong những năm qua và đề ra một số giải pháp đây nhanh quá trình cô phần hóa.
- Luận văn “Cổ phan hóa các doanh nghiệp Nha nước ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Đặng Thanh Tâm, trường Đại học kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012. Luận văn đã tổng hợp những vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Phân tích các chế độ, chính sách cô phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trong các giai đoạn khác nhau ở Việt Nam. Đánh giá thực trạng cỗ phan hoá các doanh nghiệp Nha nước ở Việt Nam những năm qua.
Tìm kiếm và đề xuất các giải pháp nhằm day nhanh quá trình cô phan hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới. Riêng trên địa bàn tỉnh Nghệ An chỉ có Luận văn “Giải pháp hoàn thiện quản lý vốn nhà nước trong các công ty cổ phần của tỉnh Nghệ An”, tác giả Nguyễn Việt Hưng, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, năm 2012. Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận về quản lý vốn nhà nước. Đánh giá, phân tích thực trạng quản lý vốn nhà nước trong các công ty cô phần ở tỉnh Nghệ An; tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý vốn nhà nước trong các công ty cổ phần.
Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn trong các Công ty cô phần Nghệ An, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhìn chung, các nghiên cứu vê CPH các DNNN ở Việt Nam rat nhiêu, chủ yêu phân tích vê cơ sở lý luận vê cô phân hóa DNNN, nâng cao sức cạnh tranh các DNNN nói chung, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về CPH các DNNN ở tỉnh Nghệ An. Cơ sở lý luận chung về doanh nghiệp nhà nước và cỗ phần hóa 1. Cơ sở lý luận về Doanh nghiệp Nhà nước 1.
Khai niệm DNNN: DNNN đã tồn tại phố biến từ lâu trong nền kinh tế nước ta. Tuy vậy, mãi tới năm 1995, mới có những nỗ lực đầu tiên dé “công ty hóa” về mặt ý niệm đối với DNNN. Cụ thể là, theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (1995), DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ich nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Cũng theo luật này, DNNN nước tồn tại dưới các hình thức: Doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tông công ty.
Và theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, phan gop vốn chi phối được tô chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phan, công ty trách nhiệm hữu hạn. So sánh khái niệm “doanh nghiệp nhà nước” theo LDN 1995, với khái niệm DNNN nước theo LDN 2003 thì có một số thay đôi như sau: () Có nội dung rộng hơn, bao gồm không chỉ doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước, mà cả doanh nghiệp nhà nước nam cô phan hay có phan góp vốn chi phối; (ii) Loại hình doanh nghiệp cũng đa dạng hơn, bao gồm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cô phan; (iii) Không xác định mục tiêu cụ thé của DNNN là thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao; (iv) Và cuối cùng là, không còn khái niệm doanh nghiệp công ích. Tuy vậy, có thể nói, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước cho đến nay vẫn chưa thực sự là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cô phần với đầy đủ những thuộc tính của chúng. Trình bày trên đây cho thấy trong giai đoạn trước tháng 07/2006, khái niệm “doanh nghiệp” được định nghĩa khác nhau trong các văn bản pháp luật khác nhau, và được áp dụng phân biệt theo thành phần kinh tế.
Trong khi doanh nghiệp do tư nhân trong nước sở hữu lấy mục tiêu sinh lợi làm tiêu chí đặc trưng hàng đầu, doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nước ngoài và khu vực kinh tế nhà nước chủ yếu dựa vào tiêu chí sở hữu. Thậm chí, lợi nhuận không được coi là mục tiêu chủ yêu của DNNN. Về loại hình đoanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân trong nước được lựa chọn cả bốn loại là đặc trưng phổ biến trong kinh tế thị trường; còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có duy nhất công ty trách nhiệm hữu hạn. Loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế nhà nước nhìn chung không tương thích với các loại hình doanh nghiệp của kinh tế thị trường.
Sau năm 2003, doanh nghiệp nhà nước mới bắt đầu sử dụng loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cô phan. Bản chất và nội dung của cùng một loại hình doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác nhau là không giống nhau. Ví dụ, việc các bên hay các thành viên phải chịu rủi ro tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là khá xa lạ với đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn nói chung và công ty trách nhiệm hữu hạn của khu vực kinh tế tư nhân trong nước nói riêng. Các loại hình khác của DNNN như tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập.
không được định nghĩa rõ về bản chất và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng. Vào những năm 2005 - 2006, áp lực và yêu cầu gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO ngày càng gia tăng; và việc gia nhập WTO cũng đã ngày càng trở nên bức thiết. Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư và thương mại, bình đăng, không phân biệt đối xử và phù hợp với các nguyên tắc thương mại quốc tế là một trong những điều kiện không thé thiếu dé nước ta có thể gia nhập WTO. Vì vậy, hàng loạt luật có liên quan đã phải được ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi; trong số đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp.
LDN 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó. Nó có hiệu lực từ ngày 01/07/2006; thay thế LDN 2000, cùng với nó là Luật DNNN năm 2003 và các quy định về doanh nghiệp của Luật Đâu tư nước ngoài tại Việt Nam. Như vậy, từ tháng 07/2006, lần đầu tiên chúng ta có một Luật Doanh nghiệp duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu han và công ty cổ phần. Cũng từ thời điểm đó, xét về mặt pháp lý, không còn hiện tượng “đồng sàng, dị mộng” khi nói và viết về doanh nghiệp.
Khái niệm “doanh nghiệp”, bản chất và thuộc tính của các loại hình doanh nghiệp đã được quy định, được hiểu và áp dụng một cách thống nhất. Cụ thể, “doanh nghiệp” được xác định là “tô chức kinh tế, có tên riêng, có tai san, có tru sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhăm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, khái niệm “doanh nghiệp” ở nước ta đã không còn phân chia va phân biệt theo thành phần kinh tế. Cũng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, DNNN coi lợi nhuận là mục tiêu hàng dau; là dau hiệu đặc trưng dé phân biết với các tổ chức kinh tế khác không phải là doanh nghiệp.
Bản chất và nội dung của khái niém doanh nghiệp đã tương thích với khái niệm tương tự được sử dụng phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường. Nghị định 99/2012/NĐ-CP về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước (SOE) vừa được Thủ tướng Chính phủ ban hành đã làm rõ khái nệm SOE.