phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của CPH các doanh nghiệp nhà nƣớc Chƣơng 2: Thực trạng CPH DNNN ở Bộ Công nghiệp (nay thuộc Bộ Công thƣơng) Chƣơng 3: Định hƣớng và các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc ở Bộ Công thƣơng 7 z Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HOÁ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm và thực chất cổ phần hoá các DNNN 1. Khái niệm cổ phần hoá các DNNN Cổ phần hoá là một hình thức chuyển đổi doanh nghiệp từ doanh nghiệp có một hoặc số ít chủ sở hữu sang các doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu dưới hình thức các công ty cổ phần (CTCP).
Thực chất của quá trình này là nhằm chuyển đổi hình thức sở hữu trong các doanh nghiệp cũ sang hình thức sở hữu hỗn hợp giữa các cổ đông trên cơ sở chia nhỏ tài sản của công ty thành những phần bằng nhau, bán lại cho các cổ đông dưới hình thức cổ phiếu. Thông qua đó thiết lập hình thức tổ chức quản lý sản xuất theo mô hình CTCP, hoạt động với tư cách một pháp nhân độc lập. Như vậy CPH có thể thực hiện cho bất cứ loại hình doanh nghiệp nào, kể cả doanh nghiệp tư nhân, DNNN và các loại hình doanh nghiệp khác. Mặc dù trong thực tiễn CPH diễn ra cả đối với các doanh nghiệp tư nhân song do số lượng các doanh nghiệp tư nhân CPH là không đáng kể, cho nên khi nhắc đến CPH người ta thường hiểu là CPH DNNN.
CPH các DNNN là thuật ngữ xuất hiện và được sử dụng ở Việt Nam gắn liền với quá trình đổi mới tổ chức và quản lý các DNNN trong thời kỳ đổi mới. Đổi mới các DNNN là xu hướng có tính phổ biến ở hầu hết các nước trong quá trình phát triển kinh tế xã hội (kể cả các nước tư bản và các nước theo mô hình của chủ nghĩa xã hội), với mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN. Đổi mới các DNNN có thể được diễn ra theo những mức độ khác nhau, với những nội dung khác nhau như: - Đổi mới những nội dung hoạt động bên trong các DNNN theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, giảm thiểu sự bao cấp của nhà 8 z nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNN, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. - Tự do hoá việc tham gia các hoạt động kinh tế cho các thành phần kinh tế khác ở những khu vực, những hoạt động vốn chỉ dành cho DNNN.
Theo đó DNNN sẽ thu hẹp phạm vi hoạt động, các thành phần kinh tế khác sẽ mở rộng phạm vi. Sức cạnh tranh giữa DNNN và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác sẽ cùng tăng lên. Số lượng các DNNN sẽ giảm, gánh nặng từ ngân sách cũng giảm bớt. - Uỷ quyền kinh doanh hoặc cho phép các loại hình kinh doanh ngoài nhà nước ký những hợp đồng kinh tế thực hiện những dịch vụ công cộng hoặc cho khu vực ngoài nhà nước thuê những tài sản công cộng.
- Chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ hình thức sở hữu nhà nước ở DNNN thành sở hữu tư nhân hoặc tập thể dưới hình thức tư nhân hoá hoặc cổ phần hoá ở các nước tư bản, các nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Nga, Đông Âu…; cổ phần hoá hoặc bán, khoán, cho thuê các DNNN như ở Việt Nam. Hiện nay, có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về CPH DNNN như: CPH DNNN là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ DNNN (doanh nghiệp đơn sở hữu) sang công ty cổ phần (doanh nghiệp đa sở hữu); hay là hình thức chuyển doanh nghiệp từ chỗ hoạt động theo Luật DNNN sang doanh nghiệp hoạt động theo các quy định về công ty cổ phần trong Luật doanh nghiệp; hay cũng có cách hiểu CPH DNNN là một hình thức tư nhân hoá. Nhìn chung các khái niệm về CPH đều nói trực tiếp đến CPH các DNNN, vì vậy, đều nói tới quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ hình thức DNNN sang hình thức CTCP, với những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các khái niệm chưa đi sâu vào bản chất bên trong của quá trình CPH các DNNN.
Vì vậy, có thể khái quát và đưa ra khái niệm đầy đủ về CPH DNNN như sau: CPH các DNNN là biện pháp có tính đặc thù của quá trình đổi mới các DNNN, là quá trình chuyển các DNNN thành các CTCP. Đó là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu nhà nước sang sở hữu của nhiều chủ 9 z thể - đa sở hữu (hay sở hữu hỗn hợp), trong đó có thể tồn tại một phần sở hữu của nhà nước; là quá trình huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất, xử lý và khắc phục những tồn tại hiện thời của DNNN; tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp. Tất cả nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giảm nhẹ gánh nặng của ngân sách nhà nước đối với doanh nghiệp. Thực chất cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nƣớc Muốn hiểu thực chất CPH DNNN, trước hết cần phải phân biệt hai quá trình chuyển đổi DNNN đó là CPH và tư nhân hoá.
CPH và tư nhân hoá là hai quá trình khác nhau cả về mục đích lẫn phương thức tiến hành, cụ thể là: mục tiêu CPH DNNN là góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp; huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp; đồng thời qua CPH mà phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động. Trong khi đó tư nhân hoá có mục tiêu là xoá bỏ hẳn những DNNN mà Nhà nước xét thấy không cần thiết nắm giữ. Về hình thức CPH đối với các DNNN được thực hiện tuỳ thuộc vào hình thức cụ thể mà doanh nghiệp lựa chọn trong những hình thức mà Nhà nước hướng dẫn rồi đề xuất lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt ra quyết định. Tư nhân hoá DNNN lại được thực hiện theo một hình thức duy nhất là bán toàn bộ tài sản thuộc sở hữu Nhà nước ở các DNNN cho các tư nhân và xoá bỏ luôn DNNN này.
Bên cạnh đó, để hiểu rõ hơn thực chất của CPH DNNN cũng cần làm rõ những khác biệt về nội dung của quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần khác gì với quá trình tư nhân hoá nó. Ở các nước tiến hành CPH DNNN thành CTCP có thể thông qua một trong hai hình thức sau: Một là, bán toàn bộ hoặc một phần tài sản hiện có thuộc sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp cho các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân bằng phương thức phát hành cổ phiếu. 10 z Hai là, giữ nguyên toàn bộ giá trị vốn hiện có của nhà nước tại DNNN, phát hành cổ phiếu ra công chúng để thu hút thêm vốn mở rộng DNNN. Cả hai hình thức trên đều là CPH DNNN, đều là quá trình chuyển DNNN từ một chủ sở hữu là Nhà nước sang CTCP - hình thức doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.
Đây cũng là quá trình chuyển việc quản lý doanh nghiệp trực tiếp là Nhà nước sang quản lý doanh nghiệp gián tiếp của các cổ đông thông qua hội đồng quản trị. Với cách nhìn nhận như vậy thì không thể quan niệm CPH DNNN là tư nhân hoá. Để hiểu rõ thực chất của CPH các DNNN cần đi sâu phân tích các nhân tố nằm trong quá trình trên. Nhân tố thứ nhất: DNNN với tƣ cách là đối tƣợng của cổ phần hoá: DNNN là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý hoạt động với tư cách chủ sở hữu, là pháp nhân kinh tế hoạt động theo luật pháp thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
Nhiều nghiên cứu đã kết luận về sự tồn tại khách quan và vai trò của các DNNN trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN như nước ta. Đó là: - Với tư cách là doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, các DNNN thông qua các hoạt động của mình thực hiện chức năng định hướng, tạo tiềm lực kinh tế cho Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết đối với nền kinh tế. - Các DNNN có vai trò to lớn trong nắm giữ các hoạt động then chốt của nền kinh tế như: điện lực, khai thác khoáng sản, dầu khí, viễn thông, vận tải và công nghiệp quốc phòng. Đồng thời được tổ chức và hoạt động ở những lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội nhưng hiệu quả kinh tế thấp như các dịch vụ công ích, các hoạt động bảo vệ môi trường,…Việc nắm giữ này cho phép Nhà nước một mặt đảm bảo những điều kiện phát triển, những cân đối lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân giúp cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả; mặt khác đảm bảo những điều kiện cần thiết cho sự ổn định đời sống kinh tế, xã hội.
11 z - Các DNNN ở những vùng biên giới, những vùng có điều kiện phát triển kinh tế xã hội khó khăn, những vùng còn lạc hậu… có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn an ninh quốc phòng, xây dựng chế độ kinh tế - xã hội công bằng, dân chủ… Như vậy, việc CPH các DNNN tuy là tất yếu trong điều kiện của nhiều nước, nhưng CPH DNNN ở quốc gia nào cũng cần phải có sự cân nhắc một cách thấu đáo để không làm mất đi tiềm lực kinh tế của đất nước, để nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế, đồng thời để các doanh nghiệp có khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Nhân tố thứ hai: công ty cổ phần với tƣ cách là sản phẩm của quá trình CPH các DNNN: Theo Luật doanh nghiệp - Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Công ty có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo luật chứng khoán; cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân với số lượng tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần (tuỳ trường hợp đặc biệt được quy định riêng). Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.