Chương 1. Một số van dé lý luận và thực tiễn về chuyền biến QHSH trong CPH DNNN Chương 2. Chuyên biến QHSH trong quá trình CPH DNNN ở Việt Nam Chương 3. Quan điểm và giải pháp thúc đây chuyên biến QHSH trong quá trình CPH DNNN ở Việt Nam giai đoạn từ nay đến 2015, tầm nhìn đến 2020.
20 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VÀ THUC TIEN VỀ CHUYEN BIEN QUAN HE SO HỮU TRONG CO PHAN HOA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 1. Cô phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1.1 Doanh nghiệp nhà nước 11.1 Sở hữu nhà nước - Khái niệm Một số nhà nghiên cứu cho răng sở hữu nhà nước chính là hình thức biểu hiện phổ biến của sở hữu toàn dan: “Sở hữu toàn dân được biểu hiện phổ biến dưới hình thức sở hữu nhà nước, với nhiều dạng, nhiều mức độ, trong nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân” [63,tr. Sở hữu toàn dân được hiểu là một hình thức sở hữu trong đó của cải tự nhiên, nhân tạo được toàn dân sử dụng, các thành viên trong xã hội có quyền ngang nhau trong việc sử dụng của cải này. Những nhà nghiên cứu theo quan điểm này đều thống nhất: Sở hữu nhà nước là một bộ phận của sở hữu toàn dân (bao gồm những tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất nhất định.) được chuyền cho cơ quan nhà nước điều hành va sử dung theo ý chí của nhân dân, theo quyết định của cơ quan quyền lực đại diện cho nhân dân với những điều kiện nhất định.
Các tác giả Nguyễn Cúc và Kim Văn Chính đã đưa ra khái niệm về phạm trù sở hữu nha nước dựa vào các yếu tố cau thành quan hệ sở hữu: “Sở hữu nhà nước là hình thức sở hữu mà chủ sở hữu là nhà nước và đối tượng sở hữu là các vật phẩm tự nhiên hoặc nhân tạo (của cải vật chất) được pháp luật hiện hành thừa nhận thuộc chủ quyền của quốc gia, của nhà nước” [14. Day là một cách tiếp cận hợp ly. Như vậy, sở hữu nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan trong mọi chế độ xã hội từ khi có nhà nước; trong đó một cộng đồng các thành viên của xã hội chiếm hữu chung tư liệu sản xuất ở những quy mô khác nhau, liên kết với nhau trong lao động và có địa vị ngang nhau về kinh tế. Việc sử dụng, chi phối tư liệu sản xuât đêu nhăm mục đích phục vụ lợi ích của xã hội.
21 Rõ ràng là, sở hữu nhà nước là một trong các vẫn đề phức tạp của hệ thống lý luận kinh tế do tính chất đặc biệt của chủ thé nhà nước cũng như vai trò của nha nước mang lại. “Dù phát triển theo hướng nào, Tư ban chủ nghĩa hay XHCN, các nước đều có khu vực kinh tế quốc doanh. Sự khác nhau chủ yếu biéu hiện ở mức độ chiếm giữ trong các khu vực ngành, ở mục tiêu và cách thức hoạt động” [57, tr. Trong mọi nền kinh tế, nhà nước vừa đóng vai trò là một pháp nhân bình đăng hoàn toàn với các pháp nhân khác vừa là “người” xác lập và kiểm soát “sân chơi chung” của nền kinh tế.
Theo chúng tôi, sở hữu nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan trong mọi chế độ xã hội từ khi có nhà nước. Nó là một hình thức sở hữu trong đó một cộng đồng các thành viên của xã hội chiếm hữu chung tư liệu sản xuất ở những quy mô khác nhau, liên kết với nhau trong lao động và có địa vị ngang nhau về kinh tế. Việc sử dụng, chi phối tư liệu sản xuất đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của xã hội. Nói cách khác, sở hữu nhà nước là một loại hình công hữu đặc biệt trong đó CTSH là một tổ chức đại diện cho một chính thể, một chế độ và đối tượng sở hữu (DTSH) được cấu thành bởi hai nhóm là: DTSH đặc biệt và các loại tư liệu sản xuất khác; mục tiêu cuối cùng trong việc khai thác quyền sở hữu là để phục vụ lợi ích của xã hội.
- Đặc trưng của sở hữu nhà nước Sở hữu nhà nước có một số đặc trưng cơ bản về CTSH và ĐTSH. Chủ thể của sở hữu nhà nước: Chủ thé của sở hữu nhà nước cũng chính là chủ thé định ra các khuôn khỏ, thê chế cho xã hội đồng thời là một pháp nhân bình đắng trước pháp luật. Chui thé của sở hữu nhà nước cũng có sự biến đổi qua các giai đoạn phát triển của xã hội loài người từ khi có nhà nước. Nếu dưới chế độ phong kiến, triều đình phong kiến là cơ quan đại diện cho nhà nước trong đó vua chính là người đại diện duy nhất; thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, bộ máy nhà nước đã hoàn thiện hơn nên ké từ đây, đại điện nhà nước là một cộng đồng người.
Đồng thời, sự biến đổi CTSH đó cũng dẫn tới những khác biệt trong mục đích của sở hữu nhà nước, nó làm cho mục đích của sở hữu nhà nước ngày 22 càng đa dạng và phức tạp; thậm chí có lúc còn mâu thuẫn với nhau (mục tiêu xã hội và mục tiêu kinh tế của một quốc gia). Đối tong của sở hữu nhà nước: Đối tượng của sở hữu nhà nước cũng có những đặc trưng nhất định do tính đặc thù riêng có của nhà nước. Đối tượng của sở hữu nhà nước có thé chia thành hai nhóm cơ bản là: (1) Nhóm đối tượng riêng có ở sở hữu nhà nước: Lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, thêm lục địa, tài nguyên thiên nhiên. Đây là nhóm đối tượng mặc nhiên thuộc sở hữu nhà nước ở mọi quốc gia.
(2) Nhóm đối tượng là tư liệu sản xuất qua đó hình thành nên thành phan kinh tế tư ban nhà nước. Đây là nhóm đối tượng mà khi sở hữu nó thì nhà nước trở thành một pháp nhân bình băng với các pháp nhân khác trong nền kinh tế. Mặt khác, chúng ta cũng có thê chia đối tượng của sở hữu nhà nước bao gom các bộ phan sau: (1) Các tài san công (phụ thuộc vào quy định của hiến pháp từng quốc gia nên có thể bao gồm cả đất đai, tài nguyên thiên nhiên. Như vậy, đặc tring cơ bản của ĐTSH nhà nước là nhóm doi tượng mặc nhiên thuộc sở hữu nhà nước.
- Vai trò của sở hữu nhà nước trong nên kinh tế thị trường Tại các quốc gia XHCN trước đây, vai trò kinh tế của sở hữu nhà nước là vô cùng lớn. “Nhà nước vừa là chủ thể hành chính, vừa là chủ thể kinh doanh, trùm lên toàn bộ nền kinh tế, làm chủ và điều hành, can thiệp trực tiếp vào một vương quốc các DNNN mà quy mô của nó chiếm xap xi 90% tong tài sản của đất nước”. Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án này, tác giả sẽ tập trung phân tích vai trò của sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Nhìn chung, sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước có một số vai trò cơ bản sau: Một là, sở hữu nhà nước luôn xác lập vai tro thống trị theo hiến định đối với một số ĐTSH cụ thể (vùng trời, vùng biến, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, dưới đáy bién.); các đối tượng này có khác nhau ở mỗi quốc gia (theo hiến định của mỗi nước); ví dụ như: ở My, khi sở hữu một khu đất đồng 23 thời được công nhận quyền sở hữu đối với các loại tài nguyên trong lòng đất nếu phát hiện ra; còn ở Pháp lại không công nhận; ở một số nước đất đai là sở hữu toàn dân nhưng ở một số quốc gia khác có sở hữu tư nhân về đất đai.
Hai là, sở hữu nhà nước đóng vai trò quan trọng đối với da số lĩnh vực kinh té công cộng - cung cấp những hàng hóa, dịch vụ công cộng cơ bản cho xã hội (lĩnh vực lợi nhuận mang lại thường rất thấp thậm chí không có lợi nhuận) hoặc những lĩnh vực không thể giao cho các hình thức sở hữu khác (lĩnh vực có tính chất trọng yếu, sống còn đối với một quốc gia). Lợi ích là mục tiêu cao nhất, định hướng cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, đối với các lĩnh vực ít mang lại lợi ích sẽ khó thu hút các hình thức sở hữu khác. Trong khi đây là những lĩnh vực đáp ứng nhu cầu của đông đảo nhân dân hoặc trong đảm bảo an ninh quốc gia theo nghĩa hẹp; vì vậy sở hữu nhà nước nhất thiết phải đóng vai trò trọng yếu trong lĩnh vực này.
Ba là, sở hữu nhà nước là một công cụ quan trong dé nhà nước thực hiện điều tiết nên kinh tế đất nước. Một nền kinh tế phát triển cần có sự cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực khác nhau vì tất cả các ngành, các lĩnh vực này đều có vai trò nhất định trong phát triển kinh tế quốc dân. Trong khi đó, lợi nhuận mang lại từ các ngành, các lĩnh vực là không giống nhau nên sự hấp dẫn các nhà đầu tư đối với các ngành, các lĩnh vực cũng có sự khác biệt. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới sự mắt cân đối trong phát triển kinh tế.
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng phát triển mất cân đối hoặc có nguy cơ rơi vào tình trạng này thì sở hữu nhà nước (thông qua hệ thống DNNN) nhất thiết phải đóng vai trò là công cụ điều tiết nền kinh tế quốc dân. Vai trò của sở hữu nhà nước từ khi ra đời đến nay là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, do cách hiểu chưa thật đúng về sở hữu nhà nước và do những khuyết tật có hữu của bộ máy nhà nước nên sở hữu nhà nước cũng có những hạn chế nhất định; như: (1) Do nhận thức không đúng, sở hữu nhà nước dễ trở thành vô chủ. (2) Từ những khuyết tật cố hữu của bộ máy nhà nước (đặc biệt là ở những quốc gia có cơ chế kinh tế tập trung, quan liêu, bao 24 cấp) nên sở hữu nha nước có thé trở thành nguyên nhân triệt tiêu động lực kinh tế của người lao động vì họ không có quyền năng thực sự của chủ sở hữu.
(3) Khi sở hữu nhà nước chi phối toàn bộ nền kinh tế dé dẫn tới quan liêu, chuyên quyền, độc đoán và kết quả là lực lượng sản xuất (LLSX) kém phát triển, năng suất lao động thấp.