mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung được chia thành 3 chương với 7 tiết. 4 z Chƣơng 1 LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHUNG VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1. KHÁI NIỆM VÀ TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. Một số khái niệm cơ bản Công ty cổ phần Công ty cổ phần, một khái niệm xuất hiện khá lâu trong lịch sử và mang tính phổ biến hiện nay.
Do vậy, mặc dù, còn có một vài quan niệm hoặc khía cạnh khác nhau nào đó về khái niệm CTCP, đó cũng là lẽ bình thường. Theo tôi, có thể hiểu: CTCP là loại công ty đối vốn được hình thành trên cơ sở liên hợp nhiều vốn cá biệt bằng cách phát hành và bán cổ phiếu; những người góp vốn bằng cách mua cổ phiếu do công ty phát hành là những cổ đông. Thực chất CTCP là một loại hình tổ chức doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn để sản xuất kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chịu rủi ro tương ứng với phần vốn góp khi công ty thua lỗ. Công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên ở các nước Tây Âu.
Đến nay CTCP đã phát triển qua 3 giai đoạn và đang ở giai đoạn thứ tư. Giai đoạn 1: Từ đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, giai đoạn này đã hình thành các công ty đầu tiên trong lĩnh vực lưu thông ở nước Anh, Hà Lan và một số nước Tây Âu khác. Giai đoạn 2: Từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX giai đoạn này các CTCP đã phát triển mạnh mẽ sang cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Giai đoạn 3: Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, giai đoạn này CTCP tiếp tục phát triển mạnh mẽ và sâu rộng: đến những thập niên cuối của thế kỷ XX: 21% dân cư Thụy Điển có cổ phần; gần 40 triệu người nước Mỹ, trong đó có khoảng 12 triệu người lao động làm thuê có cổ phần… đến cuối 5 z thập niên 80 của thế kỷ XX nước Mỹ có khoảng 10.000 CTCP, trong đó công nhân có từ 1 – 10% tư bản cổ phần [6, 83, 84].
Cùng với sự phát triển của CTCP qua các giai đoạn cho thấy sự ra đời và phát triển của CTCP không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của trình độ phát triển xã hội hoá sản xuất, là kết quả của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tập trung vốn với quy mô lớn trong một thời gian ngắn để đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất với sự hạn chế của tích tụ vốn trong từng xí nghiệp riêng lẻ. Trong lịch sử cho đến nay, có 3 con đường chính để hình thành CTCP: Thứ nhất: Phát triển theo con đường truyền thống bằng sự liên kết các tư bản riêng lẻ, các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và sự liên kết giữa các công ty tư nhân do nhu cầu tăng vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó hình thành nên các công ty cổ phần. Thứ hai: Do sự liên doanh, liên kết giữa tư bản trong và ngoài nước. Chẳng hạn, CTCP liên quốc gia giữa nước Anh và nước Pháp trong việc xây dựng đường sắt (1860 – 1880) hoặc việc sản xuất máy bay Boing của Mỹ đã phải huy động tới 65 công ty của trên 30 nước, đặc biệt với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay sự liên kết tư bản quốc tế đã không còn dừng lại ở phạm vi tư bản tư nhân và các tổ chức độc quyền với nhau mà còn có sự tham gia của các Chính phủ, giữa các nước với nhau.
Theo số liệu thống kê của UNCTAD đến nay, trên thế giới có khoảng 60 nghìn CTCP tồn tại dưới hình thức Tập đoàn kinh tế. Trong lĩnh vực công nghiệp trên thế giới có khoảng 2000 công ty độc quyền thu hút khoảng 33 triệu lao động làm thuê, kiểm soát khoảng 40% sản lượng công nghiệp thế giới; 60% ngoại thương và khoảng 80 - 85% kỹ thuật mới của thế giới. Thứ ba: Do cổ phần hóa doanh nghiệp hoặc một phần doanh nghiệp nhà nước. Vào nửa đầu thế kỷ XX, cùng với các thành tựu mới của khoa học kỹ 6 z thuật và sự xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất mới đã xuất hiện những doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò là đầu tầu, là công cụ điều tiết kinh tế của các nhà nước xong sau một thời gian tồn tại và hoạt động, các doanh nghiệp nhà nước nhìn chung làm ăn kém hiệu quả.
Chẳng hạn, ở Italia là nước có tỷ trọng sở hữu nhà nước trong nền kinh tế cao nhất thì thâm hụt của DNNN là 4,5% GDP; Bồ Đào Nha khu vực kinh tế quốc doanh thua lỗ là 1/3 GDP trong suốt thời gian từ 1974 - 1986 [28] các nước tư bản khác đều có hiện tượng tương tự. Vì vậy từ những năm 80 của thế kỷ XX lại đây ở khắp các nước trên thế giới đã diễn ra quá trình tư nhân hóa và cổ phần hóa các DNNN. Đến nay đã có hơn 80 nước đang phát triển thuộc mọi hệ tư tưởng chính trị khác nhau đã tiến hành cổ phần hóa rất tích cực. Có thể nói cổ phần hóa là một trong những nội dung chủ yếu của công cuộc cải cách DNNN nói riêng và cải cách kinh tế nói chung ở các nước đang phát triển.
Trong năm 1997 Đài Loan đã tiến hành cổ phần hóa một số DNNN trong các ngành công nghiệp và nông nghiệp. Malayxia nhà nước đã nhượng nhiều cổ phần chủ yếu trong 29 doanh nghiệp tại thị trường Kulalumpua và năm 1990 nhà nước đã mở cửa cho tư nhân hóa tham gia đến 30% cổ phần trong ngân hàng quốc gia. Đối với nước ta, những năm qua trong từng bước đẩy mạnh hình thành CTCP theo cả 3 con đường trên, trong đó cổ phần hóa DNNN đã và đang được Đảng, nhà nước quan tâm chỉ đạo, cổ phần hóa được coi là trung tâm của quá trình cải cách và cấu trúc lại DNNN. Như vậy, tuy có nhiều con đường hình thành CTCP, song thực chất của CTCP là sự chuyển sở hữu tư nhân thành sở hữu tập thể của các cổ đông, đó là sự phát triển tất yếu.
Đúng như Các Mác đã khẳng định: “Sự xuất hiện CTCP là kết quả của sự phát triển của lực lượng sản xuất và là bước quá độ từ sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổ đông”. [ 22 ] 7 z Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước DNNN là hình thức doanh nghiệp do nhà nước lập ra đầu tư vốn và quản lý vốn với tư cách sở hữu đồng thời là pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật. Hoạt động theo định hướng của nhà nước để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao. Theo NĐ 388, ngày 20 tháng 11 năm 1991 của HĐBT, nay là Chính phủ, DNNN là tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu.
Luật doanh nghiệp (sửa đổi) cũng đã khẳng định “DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao”. Như vậy, DNNN là doanh nghiệp do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu, có 2 loại: các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận và các doanh nghiệp hoạt động nhằm mục đích công ích, thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước hoặc phục vụ Quốc phòng an ninh. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Để có nhận thức đúng về khái niệm cổ phần hoá DNNN, cần có sự phân biệt giữa 2 khái niệm tư nhân hóa và cổ phần hóa. Trước hết về mặt phương pháp luận để nhận thức đúng các khái niệm nói trên không được tách rời mà phải gắn liền với với đối tượng cần được giải quyết là DNNN ở các nước trên thề giới trong đó, có nước ta.
Từ phương pháp luận đó, có thể hiểu: Tư nhân hóa là quá trình chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân, đồng thời chuyển hóa lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ độc quyền của nhà nước cho tư nhân và do tư nhân đảm nhiệm. 8 z Cổ phần hóa DNNN về thực chất là là phương thức thực hiện xã hội hóa sở hữu về vốn theo hướng chuyến sở hữu nhà nước trong DNNN thành công ty cổ phần của nhiều chủ sở hữu để tạo vốn thông qua phát hành và mua bán cổ phiếu nhằm tạo ra một mô hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trường, có sức cạnh tranh, sản xuất kinh doanh có hiệu quả đáp ứng được yêu cầu phát triển doanh nghiệp bền vững phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Cổ phần hóa và tư nhân hóa có liên quan đến hình thức sở hữu nhà nước về vốn trước và sau CPH hay tư nhân hóa. Song cổ phần hóa và tư nhân hóa là hai khái niệm có sự khác nhau nhất định: - Về pháp lý: Cổ phần hóa DNNN là chuyển doanh nghiệp sở hữu vốn từ một chủ là nhà nước sang sở hữu vốn của nhiều chủ là các cổ đông.
Còn tư nhân hóa là chuyển doanh nghiệp sở hữu vốn một chủ là nhà nước sang doanh nghiệp một chủ sở hữu là tư nhân. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn đã chứng minh rằng: Nếu doanh nghiệp chỉ thuộc quyền sở hữu một chủ thì phát sinh hiện tượng độc quyền, lũng đoạn (đối với sở hữu tư nhân) hoặc độc quyền, cửa quyền, tiêu cực, kém hiệu quả (đối với sở hữu nhà nước). - Về cơ chế quản lý: Cơ chế quản lý một chủ (tư nhân) thường kéo theo sự độc đoán, chủ quan, tuỳ tiện, những khuyết tật đó vừa không phù hợp với cơ chế thị trường vừa trái với định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước ta. Trái lại, cơ chế quản lý của CTCP do Hội đồng Quản trị chịu trách nhiệm, giám đốc chỉ là người thừa lệnh thay mặt Hội đồng Quản trị để điều hành sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần theo các chiến lược và chương trình của Hội đồng quản trị nên vừa phù hợp với cơ chế thị trường vừa đảm bảo phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng và Nhà nước.