CHƯƠNG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan lý thuyết GDP thực bình quân đầu người được tính bằng giá trị GDP thực chia cho dân số tại thời điểm đó hay nói cách khác nó cho thấy giá trị sản xuất kinh tế của một quốc gia cho mỗi công dân tại thời điểm được xem xét. GDP thực bình quân đầu người là thước đo cho sự thịnh vượng của mỗi quốc gia.L1 Mô hình Harrod- Domar Harrod (1939) và Domar (1946,1957) dựa trên luận điểm khoa học của Keynes, tư tưởng kinh tế trọng cầu. Hàm sản xuất của một quốc gia bao gồm 3 yếu tố: Y= f(K,L,R) Mô hình dựa trên các giả thiết: - _ Nền kinh tế đóng: S=I=AK - Thu nhập quốc dân của một quốc gia ty lệ thuận với nguồn vốn của quốc giađó: K=h*Y - Su gia tăng dòng dự trữ vốn ty lệ thuận với tiền tiết kiệm của người dân: S=s*Y Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tinh theo công thức: _ AY_ AY I, I—s B= ÿT TY VY AY A , I S Luo 1A gtk LTA 3 Ks Trong do: yay 8 là ty lệ tiêt kiệm của quôc gia I AK X1LA k — = —=h; h là hệ sô ICOR AY AY : Mô hình kinh tế của Harrod- Domar nhắn mạnh vai trò của vốn hay tư bản (K) đến tăng trưởng kinh tế, cho răng đầu tư là động lực chính cho sự của tăng trưởng của một quốc gia.
Tuy nhiên mô hình này gặp khá nhiều hạn chế vì trong thực tế, tăng trưởng kinh tế có thé không do tăng đầu tư và tiết kiệm cũng chi mang lại tăng trưởng kinh tế trong ngắn han, không bên vững trong dai hạn.2 Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển Robert Solow (1957) sử dụng quy luật lợi tức giảm dần theo quy mô chi phối đầu tư mở rộng tài sản hữu hình. Hàm sản xuất gồm 3 nhân tố K,L, T, với T là KHCN đưa vào làm tăng hiệu quả của lao động (E). Tương tự với Harrod- Domar, ông cũng khang định vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế nhưng ông cho rằng khi quy mô vốn tăng đến một mức nào đó thì nền kinh tế đạt trạng thái đừng và không tăng trưởng nữa. Tương tự với sự tăng lên của lao động cũng sẽ giúp tăng trưởng trong ngắn hạn và không có tác động trong dài hạn.
Nếu tốc độ tăng dân số quá cao sẽ làm giảm thu nhập bình quân đầu người. Trong mô hình tăng trưởng Solow, ông đồng nhất với Marshall về vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế, vì khi đưa khoa học công nghệ vào sản xuất sẽ làm tăng hiệu quả lao động (E), và tạo ra lao động có hiệu quả góp phần tăng trưởng kinh tế. Như vậy theo Solow, tốc độ tăng trưởng GDP thực bình quân đầu người phụ thuộc vào: - Tiến bộ công nghệ: (+) - Tỉ lệ tiết kiệm/đầu tư: (+) trong thời kì qua độ - _ Tốc độ tăng dân số: (-) trong thời kì quá độ Một trong những điểm sáng của mô hình Solow là giải thích tính chất hội tụ của nền kinh tế. Các nước có cùng công nghệ sản xuất, tỉ lệ tiết kiệm và tăng trưởng dân số sẽ hội tụ về mức thu nhập đầu người như nhau, do đó, các nước nghèo bắt đầu với mức thu nhập đầu người và K/L tương đối thấp sẽ tăng trưởng nhanh hơn cho đến khi đuôi kịp các nước giàu.
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh Mô hình tăng trưởng nội sinh ra đời vào giữa những năm 1980, với nhiều điểm mới trong lý luận và gắn nhiều đến thực tế hơn. Mô hình tăng trưởng nội sinh thoát khỏi quy luật năng suất cận biên giảm dần, đề cao vai trò của chính phủ đối với tăng trưởng trong dài hạn. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh cho rằng công nghệ được quyết định nội sinh, tiễn bộ công nghệ phụ thuộc vào tăng trưởng vốn, đầu tư mới giúp thúc đây sáng tao, cải tiến máy móc. Vốn ở đây cũng được mở rộng bao gồm vốn con người, đồng thời chỉ ra năng suất cận biên của vốn con người tăng dan.
'Yếu t6 tri thức' được đành một vị trí trung tâm trong việc giải thích về tiễn bộ kỹ thuật hiện đại và động lực tăng trưởng. Một quốc gia vẫn sẽ có tăng trưởng liên tục nhờ cào tốc độ tạo ra kiến thức ở các trường đại học không hề Suy giảm. Đồng thuận Washington Một chương trình cải cách kinh tế được các tô chức tại trụ sở Washington, Mỹ như IMF, World Bank, Bộ tài chính MY dé nghị áp dung ở những nước trải qua khủng hoảng kinh tế, bao gồm tất cả những chính sách mà các nhà kinh tế chủ nghĩa tự do mới cổ vũ áp dụng nhằm thức đây tăng trưởng kinh tế. Nó hướng đến vai trò của các chính sách và thê chế đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển.
Các chính sách tự do hóa bao gồm: - Ôn định kinh tế vĩ mô (chính sách tài khóa và tiền tệ) - Tudo hóa, độ mở thương mai va rào cản - Thu hút FDI - _ Tăng cường hoạt động kinh doanh tư nhân bằng giảm thuế, tin dụng ưu dai, thúc đây cạnh tranh lành mạnh 1. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nghiên cứu Samuel và Mill (2013) nhằm xác định các biến chính sách vi mô bao gồm: vốn vật chất, FDI, ODA, lạm phát, chi tiêu chính phủ, lực lượng lao động tác động như thế nào đến GDP bình quân đầu người và đồng thời xác định thêm các yếu tố này tác động như thế nào đến việc xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế thông qua việc xem xét các yếu tố kinh tế vĩ mô trong dai hạn của tăng trưởng kinh tế ở Ghana sử dụng phương pháp Johansen về đồng liên kết một cách phủ hợp và hiệu qua dé xác định số lượng vectơ đồng liên kết mà không cần dựa vào chuẩn hóa tùy ý. Thời gian nghiên cứu kéo dài từ 1980 đến 2010.
Các chuỗi số liệu của các biến, trước tiên, được phân tích bằng cách sử dụng thử nghiệm Augmented Dickey Fuller (ADF). Các kết quả thực nghiệm thu được chỉ ra rằng tất cả các biến quan tâm đều đứng yên sau lần sai lệch đầu tiên của chúng. Nghiên cứu đã tìm thay mối quan hệ đồng liên kết giữa GDP thực tế trên đầu người và các biến số kinh tế vĩ mô của nó. Một số khuyến nghị chính sách đưa ra là chính phủ nên có thể tạo ra nhiều nguồn thu trong nước hơn là dựa vào viện trợ nước ngoài.
Nghiên cứu Ullah và Rauf (2013) khi phân tích thực nghiệm tac động của các biến số kinh tế vĩ mô bao gồm FDI, xuất khẩu, lực lượng lao động, tiết kiệm và chỉ chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế của một số quốc gia châu Á được chọn, số liệu từ 1990 đến 2010 bằng phương pháp phân tích dit liệu bảng và ước tính mô hình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tại các quốc gia mẫu, tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng tích cực bởi đầu tư trực tiếp nước ngoài và tỷ lệ tiết kiệm trong khi xuất khẩu trong giai đoạn mẫu có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và lực lượng lao động và thuế suất không có tác động đến tăng trưởng kinh tế. (2014) khi đánh giá ảnh hưởng của một số biến số kinh tế vĩ mô (xuất khâu, lam phát, FDIi) tới tăng trưởng kinh tế của Jordan giai đoạn 1990- 2009 bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội. Kết quả cho thấy xuất khẩu và lạm phát có tác động tích cực đến tăng trưởng; không có tác động đáng ké nào về mặt thống kê của dau tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế được thê hiện bằng (GDP).
Kết quả cho răng tăng giá trị xuất khâu thêm một triệu đô la sẽ dẫn đến tăng tổng sản pham quéc nội 0,898 triệu đô la, và ty lệ lạm phát giảm 1% sẽ dẫn đến tăng tổng sản phâm quốc nội bằng 0,215 triệu đô la. Trong đó các chỉ số kinh tế độc lập trong mô hình giải thích một tỷ lệ 97% của thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội, và 3% còn lại là do các số khác chưa được đưa vào mô hình. Mbulawa (2015) khi nghiên cứu kiểm tra ảnh hưởng của các biến số vĩ mô đến tăng trưởng kinh tế, thiết lập các động lực chính của tăng trưởng kinh tế và mỗi quan hệ ngẫu nhiên giữa tăng trưởng kinh tế và các biến số kinh tế vĩ mô. Dữ liệu kinh tế vĩ mô hang năm được sử dụng cho giai đoạn 1975-2012.
Nghiên cứu sử dụng mô hình sửa lỗi Vector và các kỹ thuật Tự động phục hồi Vector. Các kết quả cho thấy FDI và lạm phát có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, động lực chính của tăng trưởng kinh tế là kết quả hoạt động trước đó của nó và dòng von FDI lần lượt chiếm 89% và 8% sự khác biệt. Nghiên cứu hỗ trợ tăng trưởng nội sinh và mô hình lan tỏa công nghệ. Nhân quả là sự chuyên dịch một chiều từ tăng trưởng kinh tế sang FDI và từ tông hình thành vốn cô định sang tăng trưởng GDP.
Duy trì mức lạm phát thấp trong dài hạn với mục tiêu 3-6% và mức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cao là yếu tố cần thiết cho tăng trưởng. FDI có thể được tăng lên bằng cách nhượng bộ thuế cho các nhà đầu tư và loại bỏ các chính sách bảo hộ. Đào tạo lực lượng lao động là rất quan trọng để mở rộng khả năng hấp thụ của công nghệ mới. Dự kiến răng bằng cách ước lượng mô hình của các quốc gia mẫu, tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cùng chiều với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và xuất khẩu, trong khi lãi suất, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát trong cùng một khoảng thời gian mẫu có giá trị âm mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế.
Áp dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên từ kết quả của bài kiểm tra Hausman ở độ tin cậy 5%, kết quả cho thấy tỷ lệ lạm phát được đo bằng chỉ số giá tiêu dùng và tỷ lệ thất nghiệp đã có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong khu vực SSA trong giai đoạn 1993-2013, đầu tư trực tiếp nước ngoài, lãi suất và tỷ lệ xuất khâu đã có một tác động tích cực đáng kê đến tăng trưởng kinh tế.