phần mở đầu và kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương: Chƣơng thứ nhất: Một số vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của HNKTQT đối với xuất nhập khẩu của quốc gia. Chương này là khung lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế nêu rõ: Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan, là thực tiễn để giúp các quốc gia trên thế giới hội nhập và phát triển về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế, nhằm từng bước thúc đẩy phát triển quốc gia, hòa nhập xu thế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế tác động đến xuất nhập khẩu của quốc gia. Tổng quan của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và kết quả đạt được.
z 7 Chƣơng thứ hai: Phân tích đánh giá tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với xuất nhập khẩu của Việt Nam sau 4 năm gia nhập WTO. Chương này tập trung phân tích những tác động đến chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam. Phân tích tác động dến xuất khẩu, nhập khẩu trước năm 2007 và từ 2007 đến 2011 nhận thấy tác động của hội nhập kinh tế đối với xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn này. Tác động tích cực và cả tiêu cực những thuận lợi và khó khăn khi ra nhập WTO.
Qua 4 năm gia nhập WTO, tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung và XNK nói riêng ở Việt Nam đang chịu tác động cả tích cực lẫn tiêu cực của quá trình HNKTQT, phát triển từ cơ chế hạn chế sang cơ chế mở và thuận lợi. XNK tăng về số lượng và quy mô ngành hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Chƣơng thứ ba: Một số định hƣớng và khuyến nghị giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Để phát huy những thuận lợi của tác động HNKTQT đối với xuất nhập khẩu Việt Nam hơn nữa, cần nhanh chóng định hướng thay đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa vào việc khai thác lợi thế cạnh tranh động để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả xuất khẩu trên cơ sở đẩy mạnh cải cách thể chế, sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại… Thực hiện định hướng phát triển chiều sâu cũng là giải pháp để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, khắc phục nguy cơ tụt hậu, nâng cao vị thế quốc gia, đảm bảo phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, có thế mạnh cạnh tranh trên thị trường quốc tế trong quá trình hội nhập sâu và rộng vào kinh tế quốc tế. Những khuyến nghị giải pháp cũng như những thách thức cơ hội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
z 8 Chƣơng 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI XUẤT NHẬP KHẨU CỦA QUỐC GIA 1. Một số vấn đề lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế 1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan, là thực tiễn để giúp các quốc gia trên thế giới hội nhập và phát triển về mọi mặt, đặc biệt là về kinh tế, nhằm từng bước thúc đẩy phát triển quốc gia, hòa nhập xu thếthế giới. HNKTQT là quá trình đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và phần còn lại trên thế giới. Nó là quá trình giảm thiểu, xóa bỏ từng bước và từng phần các rào cản thương mại, đầu tư giữa các quốc gia theo xu thế tự do hóa thương mại, tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mặt khác buộc các doanh nghiệp phải tích cực đổi mới làm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định các chính sách ở các quốc gia đồng thời gây sức ép cho các quốc gia buộc phải đổi mới và hoàn thiện thể chế về kinh tế các chính sách, pháp luật và các phương pháp quản lý[2, tr.
Hội nhập quốc tế tạo dựng các nhân tố mới và điều kiện mới cho sự phát triển của từng quốc gia và cộng đồng quốc tế trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong nước và quốc tế. HNKTQT là sự mở rộng quá trình khai thác, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực phát triển trong và ngoài nước, tạo điều kiện chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Hội nhập quốc tế là quá trình mà các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu như: khâu nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, sản xuất, phân phối, dịch vụ sau bán hàng. Hội nhập kinh tế là xu thế khách quan gắn với quá trình vận động của các quy luật kinh tế khách quan, phân công lao động quốc tế, chuyên môn hóa và tự do hóa thương mại, đầu tư, tài chính việc hình thành chuỗi giá trị toàn cầu.
Bản chất của quá trình HNKTQT được giải thích thông qua các lý thuyết về tự do thương z 9 mại, đầu tư, tài chính và liên kết quốc tế, HNKTQT gắn liền với xã hội hóa quốc tế về sản xuất và thị trường đây là quá trình vận động kinh tế từ thấp đến cao và được mở rộng mức độ phạm vi về cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ban đầu quá trình xã hội hóa gắn với hoạt động sản xuất trong phạm vi quốc gia quá trình này gắn kết riêng rẽ biệt lập nhau hình thành các tập đoàn kinh tế, làm xuất hiện mô hình các công ty cổ phần. Do tính chất về sở hữu quy mô vốn lớn hoạt động kinh doanh ngày càng gia tăng và đây là điều kiện thuận lợi cho việc gia tăng phát triển kinh doanh trên toàn thế giới, sự tương thích và liên thông các quan hệ kinh tế. Đây đòi hỏi có sự tham gia của các nước trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển, các công ty xuyên quốc gia vì các quốc gia và các công ty này có thế mạnh về vốn, công nghệ, trình độ quản lý và thương hiệu [2, tr.
Hiện nay, một mặt do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làm tăng tính chất xã hội hóa và mở rộng khỏi phạm vi quốc gia lan rộng các quốc gia khu vực và trên toàn thế giới, mặt khác tự do hóa tự do hóa thương mại là xu hướng cơ bản bao gồm các yếu tố thúc đẩy giao lưu, buôn bán giữa các nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cải thiện đời sống của dân cư. Chính vì vậy mà tất cả các quốc gia trên thế giới dù ở trình độ phát triển nào thì họ cũng muốn tiến hành điều chỉnh các chính sách theo hướng mở cửa, tiếp nhận những nguồn lực tác động bên ngoài, từng bước xóa bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho việc di chuyển các nguồn lực, vốn, hàng hóa và dịch vụ được thuận lợi hơn. Hơn nữa dù quốc gia nào có trình độ phát triển cao đến đâu chăng nữa thì tự mình cũng không thể đáp ứng được nhu cầu trong quá trình phát triển, quốc gia có trình độphát triển càng cao thì lại càng phụ thuộc nhiều hơn vào quốc tế. Những quốc gia chậm trễ trong quá trình hội nhập thì sẽ bị tụt hậu và ngược lại và vấn đề này đã trở thành quy luật trong phát triển của các quốc gia.
Vì vậy để HNKTQT có những hiệu quả các quốc gia cần có những quan điểm nhận thức đúng đắn, có cơ chế chính sách phù hợp, tận dụng triệt để ngoại lực, phát huy nội lực, tận dụng hiệu qủa những cơ hội, kiểm soát rủi ro, từng bước hội nhập chắc chắn hiệu quả. z 10 HNKTQT là mục tiêu phát triển của các quốc gia, là con đường để cho quốc gia đó thực hiện và khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế là tất yếu. Quá trình hội nhập quốc tế không phải là con đường bằng phẳng, quá trình ấy có những thách thức và cơ hội đan xen lẫn nhau, những tồn tại khách quan và chủ quan, những hạn chế và các rào cản, nhất là về thương mại đã làm hạn chế sự phát triển của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử trong suốt quá trình HNKTQT. Tiến trình tất yếu trong quá trình HNKTQTlà gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế, gọi tắt là WTO, là thể chế thương mại toàn cầu lớn nhất thế giới hiện nay với 153 thành viên (năm 2011).
Có thể nói WTO là một tập hợp tốt nhất và hoàn chỉnh nhất hiện nay các quy định pháp luật trong thương mại làm nền tảng cho hoạt động thương mại toàn cầu. WTO tạo điều kiện để hình thành những chuẩn mực chung trong điều chỉnh và đánh giá các quan hệ thương mại giữa các quốc gia vốn có rất nhiều điểm khác biệt trong phát triển. Đây là điều kiện thuận lợi để các quốc gia có thể chủ động hội nhập có hiệu quả. WTO là hiện hữu của một nền thương mại tự do, minh bạch và công bằng.
Nền thương mại tự do là điều kiện để tạo ra lợi ích lớn nhất cho các quốc gia và nguyên tắc cơ bản chi phối nền thương mại tự do là nguyên tắc lợi thế so sánh. Các loại rào cản thương mại bị loại bỏ để quá trình cạnh tranh diễn ra tự do. Các quy luật của nền thương mại tự do được phát huy tối đa, đặc biệt là quy luật cạnh tranh, nguồn lực của thế giới được phân bổ và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Để duy trì được nền thương mại tự do đó, cần phải có một hệ thống các nguyên tắc làm nền tảng cho các hoạt động ổn định, lâu dài và tạo căn cứ để buộc các quốc gia thành viên phải tuân theo.
Dựa trên các nguyên tắc đã được hình thành, các quốc gia sẽ điều chỉnh, sửa đổi các chính sách, luật pháp và quy định để phù hợp với các nguyên tắc và các cam kết của WTO. Các nguyên tắc kiến tạo thể chế WTO gồm có nguyên tắc nước được ưu đãi nhất (MFN: Most Faivous Nation), đối xử quốc gia (NT: Nation Treatment).2 Tác động của HNKTQT đối vớixuất nhập khẩu của quốc gia: z 11 Hội nhập kinh tế quốc tế ở trình độ phát triển cao của quốc tế hóa đời sống kinh tế. Ban đầu là quốc tế hóa về thương phẩm và dịch vụ, mở rộng mậu dịch quốc tế, hình thành thị trường toàn thế giới thống nhất.