Chương 1: Những vấn dé cơ bản về BOP và tăng trưởng kinh tê “7S. RS TT TE SE RA sản phẩm hàng hóa và địch vụ dồi đảo, tỉnh xảo. Đây là giai đoạn phat triển cao của nền kinh tế, các ngành công nghiệp mới, đặc biệt là các ngành khoa học công nghệ cao, giữ vị trí đứng đầu và phát triển mạnh mẽ. Đây là lý thuyết của nhà kinh tế học người Mỹ W.Rostow, theo lý thuyết này thì giai đoạn phát triển kinh tế quyết định tính tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
Tắt cả các quốc gia trong quá trình phát triển của mình đều phải trải qua 5 giai đoạn này và để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế trong từng giai đoạn thì quốc gia đó phải đề ra những chính sách kinh tế phù hợp. Lý thuyết tương tác Đây là lý thuyết về tăng trưởng kinh tế của nhà kinh tế học người Mỹ có tên là Alexander Gersenkron. Theo lý thuyết này, các nước nghèo có lợi thế hơn các nước giàu trong tăng trưởng kinh kế. Đó là do các nước này có khả năng du nhập kỹ thuật và công nghệ hiện đại làm cơ sở cho tăng trưởng kinh tế.
Yếu tố chính được nhắn mạnh trong lý thuyết này chính là kỹ thuật và công nghệ, được coi là cơ sở đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế. Các quốc gia chậm phát triển có lợi thế là không phải nghiên cứu cơ bản mà chỉ cần nghiên cứu ứng dụng những thành tựu đã có sẵn do vậy tiết kiệm được nhiều thời gian và tiền của cho đất nước. Do vậy, các nước chậm phát triển có thể đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển một cách nhanh chóng hơn rất nhiều lần so với quá trình phát triển tuần tự. Tuy có nhiều ưu điểm trong phân tích kinh tế, lý thuyết này vẫn có nhược điểm là quá nhấn mạnh vào yếu tố công nghệ và kỹ thuật từ nước ngoài mà không tính đến các yếu tố nội tại của một quốc gia.
Lý thuyết tăng trưởng kinh tế dựa vào đầu fir nước ngoài Nhà kinh tế học Paul A.Samuelson đã cho rằng để tăng trưởng kinh tế các nước nghèo phải dựa vào sự bảo đảm bốn yếu tố: nhân lực, tài nguyên, cơ cấu tư bản và kỹ thuật mà ở trong nước vốn rất yếu kém. Ở các nghèo do trình độ phát triển kém, dân trí thấp, tài nguyên thiên nhiên khan hiếm, thiếu vốn làm cho năng suất lao động thấp, dẫn đến thu nhập thấp, tiết kiệm và đầu tư thấp, tích lũy vốn thấp. Các nước này sẽ tiếp tục ở trong vòng xoắn nghèo đói nếu như không có cú huých đầu tư từ bên ngoài. Điều đó có nghĩa là, nếu không có đầu tư từ bên ngoài thì các nước này không thể có cơ sở cho tăng trưởng kinh tế.
Đại học Ngân hàng Trang 12 Chương ]: Những vấn đề cơ bản về BOP và tăng trưởng kinh rễ 1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế dựa vào công nghiệp hóa Trong kinh tế học hiện đại, lý thuyết tăng trưởng kinh tế dựa vào công nghiệp hóa đã được hoàn thiện. Nội dung cơ bản của lý thuyết tăng trưởng này là các nước nghèo muốn đạt được và duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao thì phải tiến hành xây đựng nền sản xuất công nghiệp hiện đại, chuyển từ sản xuất nông nghiệp lạc hậu lên sản xuất công nghiệp có trình độ khoa học kỹ thuật cao. Công nghiệp hóa thành công sẽ tạo ra một nền sản xuất mạnh mẽ, nâng cao chất lượng sản phẩm, sản lượng, tăng thu nhập cho dân cư, tăng tiềm lực kinh tế cho đất nước.
Lý thuyết này hiện nay đang được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế đựa vào công nghiệp hóa, các nhà kinh tế học đưa ra hai chiến lược kinh tế cơ bản. Đó là chiến lược công nghiệp hóa dựa vào thay thế nhập khâu hoặc công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu. Việc sử dụng chiến lược kinh tế nào có ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng của các cán cân bộ phận trong cán cân thanh toán quốc tế.
Như vậy, mỗi lý thuyết được xây dựng trên một tập hợp các giả thuyết mà trong thực tế nền kinh tế thường "không đáp ứng" đầy đủ các giả thuyết này; hoặc trong thực tế có nhiều vấn đề kinh tế đặc thù. Vì vậy, việc lựa chọn lý thuyết nào cho tăng trưởng kinh tế là tùy thuộc vào đặc điểm, đặc thù kinh tế của từng nước. Điều mà các lý thuyết làm được là cung cấp cho các nhà nghiên cứu một khung phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng, vấn đề còn lại của bài toán tăng trưởng còn tùy thuộc rất nhiều nỗ lực cộng đồng và đặc biệt là vai trò của chính phủ các nước. Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế chính là chỉ số chính để đánh giá sự phát triển của nền kinh tế, nó góp phân vào việc tạo ra sự thịnh vượng chung của quốc gia vì tăng trưởng kinh té cao tạo ra nhiều hàng hóa và dịch vụ.
Tăng trưởng kinh tế cao tức là sản xuất, thương mại phát triển, khoa học kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi, nền sản xuất liên tục phát triển với tốc độ cao. Tăng trưởng kinh tế cao mang lại thu nhập cao hơn, cho phép cộng đồng có thể tiêu thụ nhiều hơn. Tăng trưởng kinh tế cao làm tăng thêm lượng hàng hóa và dịch vụ phục vụ xã hội do đó cải thiện mức sống của người dân trong quốc gia. Với những lý do trên, tăng trưởng kinh tế là con đường duy nhất giúp một quốc gia đói nghèo, chậm phát triển vươn lên, đuổi kịp các quốc gia khác.
| a SS ES SS Dai hoc Ngan hang Trang 13 Chương 1: Những vấn dé cơ bản về BOP và tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế còn là phương thuốc chữa trị các căn bệnh của cả nền kinh tế. Điều này được thực hiện ở cả những quốc gia phát triển và chậm phát triển. Khi mà tăng trưởng kinh tế giảm xuống, thì tất cả các quốc gia đều phải đối mặt với các vấn đề kinh tế xã hội trằm trọng như thất nghiệp, khủng hoảng. Như vậy, tăng trưởng kinh tế với tốc độ khác nhau trong một thời gian dài tạo nên sự khác biệt lớn giữa các nước về trình độ phát triển.
Một số nước trở thành những nước phát triển hơn trong khi một số nước khác lại vẫn đang trong tình trạng đói nghèo. Tăng trưởng kinh tế chính là yếu tố quyết định trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Việc tạo ra và duy trì tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao có thé giúp một nước chậm phát triển đuổi kịp và vượt những nước phát triển hơn. Nhận thức được tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế nhưng không phải bất cứ quốc gia nào cũng có thé tao ra và duy trì được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao.
Rõ ràng câu hỏi được đặt ra là những yếu tố nào quyết định tăng trưởng kinh tế của một nước và những chính sách kinh tế nào được thực hiện thì phát huy được hết hiệu quả của các yếu tố đó. Và ở trong phan tiếp theo chúng ta sẽ nghiên cứu về các yếu tố nay. Sau đây chúng ta sẽ phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tỉnh trạng của cán cân thanh toán quốc tế với tăng trưởng kinh tế. Xem xét cán cân thanh toán quốc tế thể hiện những ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế, đồng thời những chính sách tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra cho cán cân thanh toán quốc té sy thang du hay thâm hụt để cuối cùng sẽ tìm ra con đường tốt nhất cho tăng trưởng kinh tế.
QUAN HỆ GIỮA CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TE VA TANG TRUONG KINH TẾ Cán cân thanh toán quốc tế và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Kết quả của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động khác. Chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ biện chứng này một cách chỉ tiết để thấy được vai trò kinh tế của nó. Ảnh hưởng của cán cân thanh toán quốc tế đến tăng trưởng kinh tế Như đã đề cập ở phần trước, cán cân thanh toán quốc tế luôn ở trạng thái cân bằng nhưng các cán cân bộ phận thể hiện phần chênh lệch giữa nguồn thu và chỉ trong các hoạt động kinh tế đối ngoại do đó sẽ xảy ra tình trạng thặng dư hay thâm hụt và tình trạng thặng dư hay thâm hụt của các cán cân bộ phận có ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế.
Đại học Ngân hàng Trang 14 Chương 1: Những vấn đề cơ bản về BOP và tăng trưởng kinh tế 1. Ảnh hưởng của cắn cân thương mại Cán cân thương mại thể hiện toàn bộ hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia do đó cho thấy khả năng sản xuất của nền kinh tế. Và hoạt động xuất nhập khẩu có những tác động như thế nào đến nền kinh tế? Nếu nhìn vào mức thâm hụt hay thặng dư của cán cân thương mại ta có thể thấy được mức chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu và thấy được khả năng phát triển kinh tế của đât nước đó. Nếu cán cân thương mại thặng dư, tức là quốc gia này có được những hoạt động xuất khẩu có hiệu quả trong khi nhu cầu nhập khẩu lại thấp hơn rất nhiều.
Nền sản xuất của quốc gia này là tương đối tốt vào thời điểm hiện tại do sản xuất ra nhiều hàng hóa mà nước ngoài quan tâm. Những khoản ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu đóng góp không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Như vậy, xét trong ngắn hạn thặng dư của cán cân thương mại đem lại những ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Nó thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển do tìm được đầu ra cho sản phâm.
Tuy nhiên trong dai han, thing dư chỉ là tốt khi quốc gia đó xuất khẩu được các sản phâm có nhu cầu ổn định, thị trường ổn định và sản xuất trong nước đủ đáp ứng nhu cầu của người dân dẫn đến lượng nhập khẩu không tăng. Khi đó, nền kinh tế trong nước sẽ có cơ sở để tăng trưởng với tốc độ cao trong dài hạn. Nếu thặng dư chỉ đạt được do một quốc gia xuất khẩu được những mặt hàng chỉ có nhu cầu nhất thời không ổn định hoặc do chính phủ hạn chế nhập khẩu trong khoản thời gian ngắn nhằm bảo hộ sản xuất trong nước hoặc nhằm hạn chế tiêu dùng thì thặng dư lại không phải là tốt.