Chương 1. Những vấn đề chung về bán phá giá. phá giá trong trường hợp này. Đó là trường hợp, việc bán phá giá xảy ra với một số lượng lớn, trong một thời gian dài thì sẽ làm giảm KP mặt hàng tương tự tại thị trường của nước nhập khau®.
Điều này sẽ gây ra những tác động tiêu cực đối với các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng tương tự tại thị trường nước nhập khau, chủ doanh nghiệp thì bi giảm lợi nhuận do phải hạ giá để cạnh tranh với mặt hàng nhập khẩu, công nhân làm việc trong doanh nghiệp thì có nguy cơ bị giảm tiên công vì hàng hoá bán được với giá thấp. Tuy nhiên, nếu giá bán của hàng hoá nhập khẩu thấp hơn giá bán của hàng hoá nội địa tương tự thì người tiêu dùng sẽ được lợi, họ được hưởng lợi thế về giá và được tiếp cận hàng ngoại với giá rẻ. Vì vậy, trước khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá cần phải cân nhắc việc áp dụng biện pháp này sẽ bảo vệ lợi ích của al, bảo vệ lợi của đối tượng nào sẽ có lợi hơn đối với nền kinh tế của nước nhập khẩu. Xét dưới góc độ quản lý kinh tế vĩ mô, lợi ích cuối cùng mà nước nhập khẩu cần bảo vệ phải là lợi ích của người tiêu dùng.
Lợi ích của người tiêu dùng thì rõ ràng lớn hơn nhiều những thiệt hại mà các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá tương tự phải gánh chịu. Do đó, nêu chi vì bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong nước thì việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá sẽ không phải là giải pháp tối ưu. ” Nguyễn Thanh Hưng (2002), “Co sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàn rở-Việt-Nam.trong bối cảnh hội nhập kinh tế quéc tế”, Bpđường Mu tà ¡MBtàing Botiy Bó, tr.7 alaeNg 90_—43_ - Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa xuất nhập khẩu. Bán phá giá hàng hóa nhập khẩu là bán hàng hóa ra nước ngoài thấp hơn chỉ phí làm ra hàng hóa đó Trong thương mại quốc tế, bán phá giá còn được quan niệm là bán hàng ra nước ngoài thấp hơn chi phí làm ra món hàng đó.
Nói cách khác, đây là trường hợp GXK hàng hoá thấp hơn CPSX ra món hàng hoá đó. Quan niệm về bán phá giá theo cách này ngày càng được nhiều người ủng hộ. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp VIỆC chéng bán phá giá theo cách này đều là giải pháp tối ưu. Những người ủng hộ quan điểm bán phá giá kiêu này dựa vào bản chất không lành mạnh của hành vi bán phá giá.
Nếu như quan niệm bán phá giá là sự phân biệt giá cả mang tính quôc tế, tính không lành mạnh thê hiện ở sự phân biệt giá cả ở các thị trường quốc gia khác nhau thì quan niệm bán phá giá là bán dưới mức chi phí làm ra món hàng đó, tính không lành mạnh lại thể hiện ở bản chất phi kinh tế của hành vi. Bởi lẽ, doanh nghiệp bán phá giá trong trường hợp này không phải nhằm mục tiêu kinh tế là tối đa hoá lợi nhuận mà vì các mục tiêu khác”. Chăng hạn vì các mục tiêu sau đây: - Thứ nhất, bán phá giá nhằm độc chiếm thị trường. Mục đích của hành vi bán phá giá này là doanh nghiệp bán hàng với giá thấp nhằm thôn tính, độc chiếm thị trường.
Sau một thời gian chịu lễ, doanh nghiệp sẽ loại được đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường và khi đạt được điều này, ? Đoàn Trung Kiên (2005), Pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. Những vấn đề chung về bán phá giá. doanh nghiệp sẽ tăng giá dé thu lợi nhuận độc quyền. Trong trường hợp này, doanh nghiệp đã hy sinh lợi nhuận ngăn han dé tối đa hoá lợi nhuận dài hạn.
Hành vi này không chỉ gây những thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng cạnh tranh của nước nhập khâu mà thậm chí sau một thời gian ngắn được hưởng lợi về giá, người tiêu dùng cũng sẽ bị thiệt hại khi doanh nghiệp đây giá lên cao dé thu lợi nhuận độc quyên. Vi vậy, hành vi này cần phải được ngăn chặn. Đây cũng là lí luận cô điển của các học giả và nhà lập pháp ủng hộ quan điểm áp dụng các biện pháp chống bán phá giá °. Tuy nhiên, trên thực tế việc bán phá giá theo cách này khó có thê thực hiện, vì để đạt được mục tiêu tiêu diệt đối thủ cạnh tranh đó, doanh nghiệp không những phải loại bỏ tất cả các đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi thị trường mà còn phải tìm cách ngăn chặn sự quay trở lại của các đối thủ cạnh tranh khi giá bị đây lên cao.
Đây là việc làm rất khó khăn, vì khi đã thôn tính được thị trường, nước nhập khẩu có thể triệt tiêu sức mạnh độc quyên của doanh nghiệp băng cách đánh thuế đối với lợi nhuận độc quyên. Thực tế cho thay, tỷ lệ các vu tranh chấp thương mại liên quan đến hành vi bán phá giá nhăm loại bỏ đối thủ cạnh tranh là rất hiếm. Tuy nhiên, lịch sử thương mại quốc tế cũng đã chứng kiến có vụ bán phá giá theo kiểu như vậy, đó là trường hợp Nhật Bản bán phá giá mặt hàng tivi tại thị trường Hoa Kỳ. Vào đầu '® Mai Hồng.
Quỳ & Trần Việt Dũng (2004), “Tìm hiểu ảnh hưởng của pháp luật chống bán phá giá đối với cạnh tranh”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (12), tr.39-47 19 Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa xuất nhập khẩu. những năm 1960, sáu công ty điện tử hàng đầu của Nhật Bản là Hitachi, Misubishi, Masushita, Sanyo, Sharp và Toshiba đã cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng đến cuối năm 1964, các công ty này đã thoả thuận với nhau nhằm thông. nhất nâng giá bán, quy định sản lượng của mỗi công ty.
Kết quả của việc thoả thuận này là trong nhiêu năm, người tiêu dùng Nhật Bản phải trả 700 USD cho một chiếc tivi màu, trong khi các công ty đó bán ở Hoa Kỳ chỉ với giá 400 USD một tivi màu cùng loại (CPSX ra một chiếc tivi màu là 450 USD). Việc bán phá giá đó đã làm cho các công ty sản xuất tivi của Hoa Kỳ không chịu nồi quá trình cạnh tranh và cho đến cuỗi năm 1989, nhiều hãng tivi của Hoa Kỳ đã bị phá sản, công nghiệp sản xuất tivi của Hoa Kỳ bị suy yếu mạnh''. Như vậy, sau một thời gian chịu thua lỗ, các công ty của Nhật đã chiếm lĩnh được thị trường tivi tại Hoa Kỳ và khi đạt được mục đích này, họ bắt đầu chiến lược nâng giá dé thu lợi nhuận độc quyền. - Thứ hai, bán phá giá nhằm cạnh tranh dé giành thị phan.
Một số doanh nghiệp xuất khâu hàng với mức giá thấp hơn CPSX nhăm mục tiêu chiếm được thi phan cao hơn trên thị trường của nước nhập khẩu. Trong trường hợp này, doanh nghiệp đã bán phá giá hàng hoá. Tuy nhiên, mục tiêu của doanh nghiệp là không định thôn tính toàn bộ thị trường mà chỉ cố tăng thị phan của mình. Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp chống phá giá trong trường hợp này '' Đoàn Văn Trường (1998), Bán phá giá và biện pháp, chính sách chong ban phá giá hàng nhập khẩu, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr.
Những vấn đề chung về bán phá giá. cũng không phải là giải pháp tôi ưu bởi các lí do sau đây: (i) đối với các thị trường lần đầu tiên thâm nhập, dé cạnh tranh với hàng hoá cùng loại ở trong nước, các doanh nghiệp thường sử dụng hành động này, vì hàng, hoá nhập khâu mới chưa được người tiêu dùng biết đến về mẫu mã, bao bì, chủng loại, hình thức, chất lượng. nên doanh nghiệp phải có các hoạt động xúc tiến thương mại như hạ giá dé người tiêu dùng tiệp cận hàng hoá. Sau một thời gian dùng thử hàng hoá, nếu người tiêu dùng chấp nhận, doanh nghiệp có thê tăng giá để bù đắp phần lỗ trước đó.
Hành động bán phá giá này của doanh nghiệp sẽ tạo cơ hội cho người tiêu dùng được sử dụng hàng hoá nhập ngoại chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và giá lại rẻ. Cho dù sau đó, doanh nghiệp có thể tăng giá cho đúng giá trị của hàng hoá thì cũng là quy luật bình thường; (11) thông qua hoạt động này, doanh nghiệp có thể tiếp nhận được các thông tin phản hỏi từ phía người tiêu dùng dé có kế hoạch kịp thời sửa chữa, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng hàng hoá và thái độ phục vụ, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu và thi hiếu của người tiêu dùng. Một khi doanh nghiệp đáp ứng được các đòi hỏi khat khe đó của thương trường thì chắc chắc doanh số bán hàng của doanh nghiệp sẽ tăng mạnh trong tương lai nên hiện tại họ sẵn sàng bán hàng với giá thấp hơn CPSX. T rong ngăn hạn, người tiêu dùng ở nước nhập khẩu sẽ được hưởng lợi do mua được hàng ngoại nhưng gia lại rẻ hơn hàng nội.
“Trong dài hạn, khả năng này van có thé diễn ra do CPSX vẫn luôn có xu hướng giảm vì 21 Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa xuất nhập khẩu. sức ép của việc cải tiến, đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất đáp ứng nhu cầu cạnh tranh. Thậm chí các doanh nghiệp trong nước cũng được hưởng lợi từ hành động này của các doanh nghiệp xuất khẩu, vì muốn tôn tại và đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt đó thì họ buộc phải học hỏi các đối thủ của mình dé nâng cao năng lực cạnh tranh, ngược lại, họ sẽ bị các doanh nghiệp nước ngoài bỏ xa và có nguy cơ bị đào thải. - Thứ ba, ban phá giá nhằm thu hồi lại một phần vốn hoặc quay vòng vôn nhanh.
Một số doanh nghiệp có thê xuất khẩu với mức giá thấp hơn CPSX nhăm mục tiêu thu hồi lại một phần vốn hoặc muốn quay vòng vốn nhanh đã bỏ vào kinh doanh. Trong trường hợp này, doanh nghiệp cũng đã bán phá giá hàng hoá. Tuy nhiên, mục tiêu của doanh nghiệp không phải là nhăm thôn tính thi truong hoac/va tang thi phan ma don gian chi vi ho muốn thu hồi lại một phần von đối với các hàng hoá dư thừa, tôn kho hoặc é 4m như hàng hoá đã lỗi mốt, hết mùa v. Các loại hàng hoá này không thé giải quyết được theo cơ chế giá bình thường mà phải có các giải pháp thích hợp đề tiéu thụ chúng.
Hoặc là, họ nhằm mục đích quay vòng von nhanh nên sẵn sàng bán hàng hoá với giá rất thấp dé thu hồi lại vốn để sản xuất mặt hàng khác phù hợp hơn.