Đánh giá lợi nhuận của các doanh nghiệp trước và sau khi gia nhập WTO

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kinh doanh đánh giá lợi nhuận các doanh nghiệp trước và sau gia nhập vào wto, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

99
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Lợi nhuận doanh nghiệp và tác động của WTO

Lợi nhuận doanh nghiệp là một chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh. Việc gia nhập WTO vào năm 2007 đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong môi trường kinh doanh của Việt Nam. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá lợi nhuận của các doanh nghiệp trước và sau khi gia nhập WTO, sử dụng mô hình hàm lợi nhuận translog để phân tích dữ liệu từ các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là sự gia tăng cạnh tranh toàn cầu và hội nhập kinh tế.

1.1. Doanh nghiệp trước WTO

Trước khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong môi trường bảo hộ, với ít áp lực cạnh tranh quốc tế. Lợi nhuận doanh nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào chi phí lao động và nguyên vật liệu. Nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí đầu tư giảm trong giai đoạn này, phản ánh sự thiếu hụt vốn và công nghệ. Điều này dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp và tăng trưởng doanh nghiệp chậm.

1.2. Doanh nghiệp sau WTO

Sau khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ thị trường quốc tế. Lợi nhuận doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi chi phí nguyên vật liệu tăng, trong khi chi phí đầu tư và lao động có xu hướng tăng. Tuy nhiên, sự gia tăng hiệu quả kinh doanh và chiến lược kinh doanh phù hợp đã giúp nhiều doanh nghiệp duy trì và tăng trưởng lợi nhuận.

II. Phương pháp nghiên cứu và kết quả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với hàm lợi nhuận translog để phân tích dữ liệu từ 879 mẫu hợp lệ. Các biến số bao gồm chi phí lao động, chi phí nguyên vật liệu, chi phí bán hàng và quản lý, cùng với chi phí đầu tư. Kết quả cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong cấu trúc lợi nhuận của doanh nghiệp trước và sau khi gia nhập WTO.

2.1. Phương pháp định lượng

Phương pháp hàm lợi nhuận translog được áp dụng để đánh giá tác động của các yếu tố chi phí đến lợi nhuận. Dữ liệu được thu thập từ các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, bao gồm cả giai đoạn trước và sau khi gia nhập WTO. Phương pháp này cho phép phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa các biến số và lợi nhuận.

2.2. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí lao động và chi phí bán hàng có tác động tích cực đến lợi nhuận doanh nghiệp ở cả hai giai đoạn. Tuy nhiên, chi phí nguyên vật liệu chỉ ảnh hưởng tiêu cực sau khi gia nhập WTO. Chi phí đầu tư tăng trong giai đoạn sau, phản ánh sự gia tăng cạnh tranh và nhu cầu cải thiện hiệu quả kinh doanh.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về tác động của gia nhập WTO đến lợi nhuận doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách, giúp họ hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và đề ra chiến lược phù hợp.

3.1. Đối với nhà quản lý doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về tác động của các loại chi phí đến lợi nhuận doanh nghiệp. Từ đó, họ có thể điều chỉnh chiến lược kinh doanh để tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu.

3.2. Đối với nhà hoạch định chính sách

Nghiên cứu cung cấp thông tin quan trọng về tác động của gia nhập WTO đến nền kinh tế Việt Nam. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập và phát triển bền vững.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu đề tài: Bối cảnh nền kinh tế Việt Nam; Lí do hình thành đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Đối tượng nghiên cứu; Ý nghĩa đề tài; Giới hạn của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Các khái niệm liên quan đến lợi nhuận và hàm lợi nhuận; Tổng quan về các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: trình bày mô hình nghiên cứu; các phương pháp phân tích xử lý dữ liệu và kiểm định mô hình nghiên cứu; phạm vi và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: phân tích kết quả nghiên cứu định lượng – mô hình hàm lợi nhuận translog; thảo luận kết quả Chương 5: Kết luận: Tóm tắt những kết quả chính; trình bày những đóng góp; những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương hai trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết về lợi nhuận, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận, hàm lợi nhuận và các nghiên cứu trước đây. Từ những cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước để xây dựng mô hình nghiên cứu và đưa ra các giả thuyết trong chương ba. Lợi nhuận của doanh nghiệp 2. Các định nghĩa về lợi nhuận Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ công ty theo lý thuyết là đạt tối đa lợi nhuận và giả thuyết này rất vững chắc.

Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô.Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của họ về công ty đều lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích cuối cùng, tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận: Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Marx, lợi nhuận là “cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất”. Karl Marx lại cho rằng: “giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi gọi là lợi nhuận”. Đến các nhà kinh tế học hiện đại P.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”. Từ các quan điểm trên, thấy rằng nhờ có lý luận vô giá về giá trị hàng hoá sức lao động, Marx là người đầu tiên đã phân tích nguồn gốc lợi nhuận một cách khoa học, sâu sắc và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị.

Theo Marx, lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, lợi nhuận và giá trị thặng dư có sự giống nhau về lượng và khác nhau về chất. Xét về lượng, nếu giá cả hàng hoá bằng giá trị của nó thì lượng lợi nhuận bằng lượng giá trị thặng dư, nếu giá cả hàng hoá không nhất trí với giá trị của nó thì mỗi tư bản cá biệt có thể thu được lượng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn 7 giá trị thặng dư, nhưng trong toàn xã hội thì tổng số lợi nhuận luôn bằng tổng số giá trị thặng dư. Xét về chất, giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, là khoản dôi ra ngoài giá trị tư bản khả biến và do sức lao động được mua từ tư bản khả biến tạo ra. Còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dư thông qua trao đổi, phạm trù lợi nhuận đã xuyên tạc, che đậy được nguồn gốc quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa.

Kế thừa được những gì tinh tế nhất của các nhà kinh tế học tư sản cổ điển, kết hợp với quá trình nghiên cứu sâu sắc nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, Karl Marx đã chỉ rõ được nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và quan điểm về lợi nhuận là hoàn toàn đúng đắn, do đó ngày nay khi nghiên cứu về lợi nhuận chúng ta đều nghiên cứu dựa trên quan điểm của Karl Marx. Ở Việt Nam, theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp ghi nhận: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh có tên riêng, tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” Mà kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Điều đó chứng tỏ rằng lợi nhuận đã được pháp luật thừa nhận như là mục tiêu chủ yếu và là động cơ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy: lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.

Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp có thể thấy rằng: Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Phân loại lợi nhuận Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có hiệu quả. Tuy nhiên, do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú, hiệu quả kinh doanh có thể đạt được từ nhiều hoạt động khác nhau. Bởi vậy lợi nhuận của doanh nghiệp cũng bao gồm nhiều loại, trong đó chủ yếu là: 8  Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm và chi phí đã bỏ ra của khối lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ, lao vụ của các hoạt động sản xuất kinh doanh chính và phụ của doanh nghiệp.

 Lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính mang lại: đó là khoản chênh lệch giữa các khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính trong quá trình doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh. Các hoạt động nghiệp vụ tài chính gồm: hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh ccủa doanh nghiệp, lãi cho vay vốn, lợi tức cổ phần và hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán và lợi nhuận thu được từ việc phân chia kết quả hoạt động liên doanh, liên kết của doanh nghiệp với đơn vị khác.  Lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác (hoạt động bất thường):là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên. Như vậy, lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác bao gồm: khoản phải trả nhưng không trả được do phía chủ nợ, khoản nợ khó đòi đã duyệt bỏ nay thu hồi được, lợi nhuận từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.

Khoản thu vật tư tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt, mất mát, khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của hoạt động thanh lý, nhượng bán tài sản cố định. Lợi nhuận các năm trước phát hiện năm nay, hoàn nhập số dư các khoản dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, tiền trích bảo hành sản phẩm còn thừa sau khi hết hạn bảo hành.  Từ ba cách phân loại lợi nhuận nêu trên, “lợi nhuận” được đề cập trong nghiên cứu là khoản lợi nhuận thu được từ các hoạt động kinh doanh. Vai trò của lợi nhuận Đối với doanh nghiệp: Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì trong điều kiện hạch toán kinh doanh độc lập theo cơ chế thị trường, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển hay không thì điều quyết định là doanh nghiệp có tạo ra được lợi nhuận hay không? Chuỗi lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai sẽ phát sinh và diễn biến như thế nào? Vì thế, lợi nhuận được coi là một trong những đòn bẩy kinh 9 tế quan trọng đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được ổn định, vững chắc. Lợi nhuận là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp phấn đấu cải tiến, nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho giá thành sản phẩm hạ thì lợi nhuận sẽ tăng lên một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành sản phẩm tăng lên thì lợi nhuận sẽ giảm đi.

Bởi vậy là chỉ tiêu quan trọng nhất tác động đến mọi vấn đề của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời lợi nhhuận ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, là chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với xã hội: Lợi nhuận là nguồn tích luỹ cơ bản, là nguồn để mở rộng tái sản xuất xã hội. Sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải hạch toán lợi nhuận (hoặc lỗ) rồi từ đó nộp một khoản tiền vào ngân sách nhà nước. Sự tham gia đóng góp này của các doanh nghiệp được phản ánh ở số thuế thu nhập mà doanh nghiệp đã nộp.

Thuế thu nhập doanh nghiệp là một sự điều tiết của nhà nước đối với lợi nhuận thu được của các đơn vị sản xuất kinh doanh, để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và động viên một phần lợi nhuận của cơ sở kinh doanh cho ngân sách nhà nước, bảo đảm sự đóng góp công bằng, hợp lý giữa các thành phần kinh tế, kết hợp hài hoà giữa lợi ích của nhà nước và lợi ích của người lao động. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để khuyến khích, nâng cao chất lượng sản xuất, thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ miễn thu cho phần lợi nhuận dùng để tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh và miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh ở vùng sâu, vùng xa. Khoản thuế thu nhập mà các doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhà nước sẽ dùng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mở rộng tái sản xuất xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá lợi nhuận doanh nghiệp trước và sau khi gia nhập WTO" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự thay đổi trong lợi nhuận của các doanh nghiệp Việt Nam sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với hoạt động kinh doanh trong nước. Những thông tin này không chỉ hữu ích cho các nhà quản lý doanh nghiệp mà còn cho những ai quan tâm đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến kinh tế và quản lý, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở việt nam, nơi phân tích mối liên hệ giữa xuất khẩu và sự phát triển kinh tế, hay Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh sự hài lòng về chất lượng dịch vụ vay vốn tín dụng của hộ nghèo trên địa bàn tỉnh ninh thuận, giúp bạn hiểu thêm về dịch vụ tài chính và sự hài lòng của khách hàng. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án ts phát triển tài chính và hiệu lực của chính sách tiền tệ, để nắm bắt được ảnh hưởng của phát triển tài chính đến chính sách kinh tế. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh kinh tế hiện tại.