Chương 1 QUAN HỆ DÂN SỐ KINH TẾ VÀ TIẾP CẬN MÔ HÌNH HÓA QUÁ TRÌNH KINH TẾ - DÂN SỐ Quá trình phát triển kinh tế và biến động dân số của một quốc gia thể hiện như hai mặt của một tổng thể thống nhất. Trong lịch sử phát triển của nhân loại, tùy thuộc điều kiện của từng thời kỳ mà vai trò của hai yếu tố này trong việc tạo nên sức mạnh của một quốc gia có thể khác nhau. Tuy nhiên, nếu xem xét một quốc gia với sự phát triển nội sinh của mình thì không thể tách rời hai quá trình này. Sự phân biệt hai mặt của một tổng thể trong quá trình phát triển chỉ mang ý nghĩa phương pháp luận trong nghiên cứu.
Nhờ phương pháp trừu tượng hóa, xem quá trình này là xác định, để nghiên cứu sự tác động của nó đến quá trình khác người ta đã tìm ra được những quan hệ có tính qui luật trong vận động của mỗi quá trình và quan hệ tác động qua lại của hai quá trình như những phân tích tĩnh. Cách tiếp cận truyền thống nhấn mạnh tính độc lập tương đối của các quá trình phát triển kinh tế và dân số. Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng các nghiên cứu có tính riêng biệt như vậy cũng cho những kết quả hữu ích. Một cách tiếp cận có tính chất toàn diện và động nhờ việc mô hình hóa toán học đã xuất hiện vào những năm cuối thế kỷ XVIII.
Cách tiếp cận này ngay từ đầu cũng không hoàn toàn khắc phục được những hạn chế của cách tiếp cận truyền thống. Tuy nhiên, theo thời gian cách tiếp cận mô hình hóa toán học đã mở ra con đường nghiên cứu hai mặt của một hệ thống trong một thể thống nhất. Chương này điểm lại những vấn đề cơ bản của các quá trình kinh tế và dân số đồng thời giới thiệu khái quát sự phát triển của hệ thống mô hình kinh tế- dân số, những kết quả đã nhận được từ các mô hình. 17 Trong khi giới thiệu các lớp mô hình kinh tế – dân số luận án cũng nêu lên những kết quả riêng của tác giả khi phân tích, so sánh các mô hình này.
I- NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN ĐẶC TRƯNG CHO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, khi đánh giá một quốc gia hay một dân tộc về mặt đời sống, trước hết người ta hiểu là đời sống kinh tế. Đời sống kinh tế thể hiện bởi các đặc trưng cơ bản của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định và sự phát triển của nó theo thời gian. Các đặc trưng về mức Các chỉ tiêu số lượng chung thường dùng đánh giá các đặc trưng về mức của một nền kinh tế tại mỗi thời điểm. Có thể hệ thống lại các chỉ tiêu này qua quá trình phát triển lịch sử.
- Diện tích lãnh thổ: trong lịch sử diện tích hay độ lớn của một lãnh thổ đã từng là chỉ tiêu đo sức mạnh của một quốc gia, một tộc người. Ngay cả trong thời kỳ cận hiện đại các cuộc chiến tranh cũng lấy tiêu thức mở rộng lãnh thổ làm một trong các mục đích chính. Tuy nhiên, đặc trưng này gắn với người đứng đầu quốc gia, bộ tộc hơn là với một cộng đồng có tính chất xã hội. - Tài sản: tài sản của một quốc gia thể hiện giá trị vật chất, tinh thần do thiên nhiên ban tặng và con người tạo ra mà quốc gia đó sở hữu tính đến thời kỳ quan sát.
Thông thường người ta chỉ đo được tài sản vật chất và có thể so sánh tài sản phi vật chất một cách tương đối theo một hệ thống đánh giá cụ thể. - Tổng giá trị sản xuất: tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của một nền kinh tế, chỉ tiêu này thường được tính cho một thời kỳ (1 năm)2. Chỉ tiêu này thể hiện qui mô kết quả sản xuất của một nền kinh tế, nó là cơ sở sức mạnh trong giao thương kinh tế cũng như quá trình tái sản xuất. wayne Naiger: Kinh tế học của các nước đang phát triển 18 - Thu nhập quốc nội: phản ánh tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mới sáng tạo ra trong một thời kỳ của nền kinh tế.
Chỉ tiêu này đo lường sự phát triển tổng cộng về lượng của nền sản xuất, nó không bao gồm giá trị tài sản quá khứ chuyển vào hàng hóa dịch vụ. - Cơ cấu kinh tế theo ngành, vùng và lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế biểu hiện phân bố lực lượng sản xuất của một quốc gia. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo thời gian thể hiện thế mạnh, xu thế phát triển, đổi mới và khả năng hội nhập của một nền kinh tế. - Thu nhập bình quân đầu người: chỉ tiêu này phản ánh chất lượng đời sống kinh tế của một cộng đồng.
Có thể sử dụng chỉ tiêu này như một thước đo chung để xếp loại trình độ phát triển kinh tế của các quốc gia. Các đặc trưng tỷ lệ - Nhịp tăng trưởng kinh tế: hệ số này có thể sử dụng như một đặc trưng của khả năng và xu thế phát triển của quá trình kinh tế, thông thường tăng trưởng GDP được dùng làm đại diện. Cùng với tăng trưởng GDP người ta còn dùng tăng trưởng GDP bình quân đầu người để phản ánh đầy đủ hơn quá trình tăng trưởng lợi ích vật chất của dân cư. - Nhịp tăng trưởng vốn: vốn là một trong hai yếu tố cơ bản của một quá trình sản xuất.
Nhịp tăng trưởng vốn phản ánh tiềm năng tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. - Giá cả và lạm phát và chỉ số giá: trong nền kinh tế thị trường chỉ số giá cả và lạm phát (thể hiện bới chỉ số giá GDP và chỉ số giá hàng tiêu dùng) thường sử dụng với hai mục đích chính là qui đổi các chỉ tiêu kinh tế của các thời kỳ trong một quốc gia và phản ánh tính ổn định có thể so sánh được của các nền kinh tế khác nhau. 19 - Thất nghiệp: tỷ lệ thất nghiệp về mặt kinh tế phản ánh sự mất cân bằng giữa cung cầu lao động nhưng phía sau tỷ lệ này là những vấn đề khác như năng lực sản xuất, gánh nặng của lao động có việc làm,. Những đặc trưng nói trên có mặt trong hầu hết các nghiên cứu kinh tế và cũng là những vấn đề luôn đặt ra đối với mọi Chính phủ trong việc hoạch định các chính sách kinh tế.
II- NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN DÂN SỐ Dân số trước hết thể hiện như một thực thể xã hội, tồn tại cùng thế giới loài người. Quá trình phát triển dân số nói chung và quá trình phát triển dân số của mỗi quốc gia về cả chất lượng và số lượng có thể xem là tiêu thức cuối cùng để đánh giá sự phát triển của quốc gia đó. Trong lịch sử vào những thời kỳ khác nhau có thể có những quan điểm, cách đánh giá khác nhau về sự phát triển về số lượng, chất lượng dân số. Với tư cách là một quá trình độc lập tương đối trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, người ta có những chỉ tiêu riêng đặc trưng cho quá trình này.
Các chỉ tiêu về lượng - Tổng số dân và cơ cấu dân số: tổng số dân của một quốc gia trong một thời kỳ đo bằng số người trung bình của quốc gia đó (theo mỗi thời kỳ có thể xác định khác nhau). Trong cơ cấu dân số người ta quan tâm đến hai cơ cấu cơ bản là cơ cấu giới tính và cơ cấu tuổi, ngoài ra tùy thuộc mục đích nghiên cứu, quản lý người ta có thể quan tâm đến các cơ cấu khác, như tộc người, nghề nghiệp,. - Dân số hoạt động kinh tế: số lượng cư dân đang tìm việc hoặc đang tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ. 20 - Các chỉ tiêu biến động dân số: sinh, chết, di cư phản ánh sự biến động tự nhiên và cơ học của một dân số.
Các chỉ tiêu này theo thời gian cũng là yếu tố chính gây nên sự biến động cơ cấu của một dân số như cơ cấu tuổi, tỷ trọng dân số hoạt động kinh tế,. Các chỉ tiêu chất lượng Chất lượng của một dân số thường được xác định trên hai giác độ: năng lực của dân cư và sự thỏa mãn nhu cầu đời sống kinh tế xã hội của dân cư. Có thể nêu lên các chỉ tiêu thông thường như sau: - Tỷ lệ dân cư có khả năng lao động: chỉ tiêu này phản ánh lực lượng lao động có trong một dân cư, nó phụ thuộc vào cơ cấu tuổi, khả năng sức khỏe và thời gian cư dân có thể dành cho các hoạt động kinh tế xã hội. - Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn: trình độ học vấn phản ánh cơ bản khả năng nội tại của dân cư trong việc hiểu biết thiên nhiên, xã hội và con người, là nền tảng tạo nên lực lượng lao động xã hội cũng như khả năng cải biến chính cuộc sống của cộng đồng.
Trình độ chuyên môn phản ảnh trực tiếp khả năng tham gia hoạt động kinh tế, xã hội tạo ra của cải vật chất và tinh thần, nâng cao mức sống của cá nhân và cộng đồng. - Tiêu dùng của dân cư: chỉ tiêu này phản ảnh một cách định lượng lợi ích vật chất, tinh thần mà dân cư nhận được từ các hoạt động kinh tế-xã hội trong quá khứ và hiện tại. - Sự bất bình đẳng: đây là chỉ tiêu của xã hội hiện đại, chỉ tiêu này có thể được đo theo một hay tổng hợp từ nhiều tiêu thức phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của các bộ phận cư dân khác nhau trong một cộng đồng. - Chỉ số phát triển con người (HDI): chỉ số này coi là thước đo tổng hợp về mức và khả năng phát triển con người, chỉ tiêu này thường sử dụng so sánh tương đối giữa các quốc gia.
Đây cũng là một trong các chỉ tiêu xác định vị thế của một quốc gia trên thế giới hiện nay. 21 III- QUAN HỆ KINH TẾ - DÂN SỐ Kinh tế và dân số có thể xem là hai mặt của một tổng thể (xã hội con người). Quan hệ kinh tế và dân số đã được nhiều người nghiên cứu, tùy thuộc mục đích nghiên cứu mà quan hệ này được xem xét theo những cách tiếp cận khác nhau. Có thể phân loại hai cách tiếp cận cơ bản như sau: - Tác động nhân quả của hai quá trình - Xu thế động và tác động theo thời gian của hai quá trình trong một quan hệ thống nhất.