CHƯƠNG I NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN HE KINH TE QUOC TE I. QUAN HE KINH TE QUOC TE VA NEN KINH TE THE GIỚI 1. Thuật ngữ “quan hệ kinh tế quốc tế” Thế giới ngày nay đã phát triển và tồn tại với một cấu trúc phức tạp, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn. 7ổng hod các mối quan hệ về kinh tế giữa các quốc gia với nhau tạo nên quan hệ kinh tế quốc tế.
Chính quan hệ kinh tế quốc tế là yếu tố cơ bản quyết định sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thé giới. Quan hệ kinh tế quốc tế vừa là quan hệ quốc tế mang tinh chất kinh tế, vừa là quan hệ kinh tế mang tính chất quốc tế. Quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ quốc tế mang tính chất kinh tế Trước kia, gan hệ quốc tế thường được hiểu là quan hệ bang giao giữa các quốc gia, liên quan đến an ninh, biên giới lãnh thé. Nay quan hệ đó được mở rộng ra mọi lĩnh vực, như văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, môi trường.
và liên quan đến nhiều loại chủ thể (quốc gia, công ty xuyên quốc gia, tổ chức quốc tế. Loại quan hệ quốc tế mang tính chat 9 kinh tế được thé hiện rất phong phú trong đời sống quốc tế, và thường được điều chỉnh băng Công pháp Quốc tế. Thí dụ như việc các nước đang phát triển (DCs) yêu sách về một trật tự kinh tế thế giới mới vào những năm 70 của thế kỷ XX, sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc thành lập các tô chức kinh tế quốc tế, quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến viện trợ và nợ nước ngoài, việc ký kết các hiệp định thương mại và bảo hộ đầu tư, việc giải quyết tranh chấp kinh tế - thương mại, việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế kinh tế giữa các quốc gia. Như vậy, quan hệ kinh tế quốc tế trước hết là những quan hệ quốc tế (quan hệ giữa các quốc gia là chủ yếu), nhưng không phải là toàn bộ quan hệ quốc tế, mà chỉ bao gồm các quan hệ có liên quan đến yếu tô kinh tế.
Quan hệ kinh tế quốc tế là quan hệ kinh té mang tinh chất quốc tế Quan hệ kinh tế được hiểu là quan hệ phát sinh giữa các chủ thé trong quá trình t6 chức, quan lý và hoạt động sản xuất kinh doanh, cấp phát và huy động von phục vu hoạt động san xuất kinh doanh, sử dụng lao động. Các hoạt động và quan hệ kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan, như quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ. Trong thực tiễn hoạt động kinh tế có các quan hệ kinh tế mang tính chất quốc tế, tức là chúng vượt quá phạm vi biên giới một quốc gia. Thí dụ như quan hệ xuất nhập khâu hàng hoá, đầu tư nước ngoài, chuyên giao công nghệ, xuất nhập khẩu sức lao động, thanh toán quốc tế.
Loại quan hệ này thường được điều chỉnh bằng luật quốc gia (trong đó có Tư pháp Quốc tế). 10 Trong thời đại ngày nay, guan hệ quốc té mang tinh chất kinh tế và guan hệ kinh té mang tính chất quốc tế có mối liên hệ đan xen phức tạp, khó có thể phân biệt một cách tuyệt đối. Trên thực tế, quan hệ kinh tế quốc tế là đối tượng điều chỉnh của cả Công pháp Quốc tế và luật quốc gia. Hiện nay, loại quan hệ này, trong chừng mực đáng kể, đang chịu sự chỉ phối của các quy định của WTO.
Đối tượng nghiên cứu của môn học Quan hệ kinh tế quốc tế Môn học Quan hệ Kinh té Quoc té nghiên cứu sự phụ thuộc lần nhau về mặt kinh tế giữa các quốc gia; nghiên cứu thực trạng và tính quy luật của các quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động, khoa học - công nghệ. giữa các quốc gia; các hình thức, nguyên tac đảm bảo tài chính cho các hoạt động kinh té nêu trên; dong thời nghiên cứu các thiết chế, chính sách điều chỉnh các quá trình trao đổi nói trên. Sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế giữa các nước còn chịu sự ảnh hưởng của các quan hệ chính tri, văn hoá - xã hội và quân sự giữa các nước, do đó các khía cạnh này, trong một chừng mực nhất định, cũng cần phải được đề cập. Đối tượng nghiên cứu của môn học bao gồm các loại vẫn đề sau đây: - Quan hệ thương mại hàng hoá quốc tế; - Quan hệ thương mại dịch vụ quốc tế; - Quan hệ đầu tư quốc tế; - Quan hệ quôc tê về dịch chuyên sức lao động; II - Quan hệ quốc tế về trao đôi khoa học - công nghệ (Quan hệ quốc tế về sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại); - Quan hệ tài chính - tiền tệ quốc tế; - Các quan hệ quốc tế khác phát sinh trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Như vậy, phạm vi của các quan hệ kinh tế quốc tế rộng hơn nhiều so với guan hệ kinh tế đối ngoại (hay quan hệ ngoại thương). Quan hệ kinh tế đối ngoại của một quốc gia là tổng thể các mối quan hệ về vật chất và tài chính của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Tổng hoà các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia tạo nên hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế. Phạm vi của các quan hệ kinh tế quốc tế cũng không đồng nhất với quan hệ thương mại quốc tế.
Về cơ bản, quan hệ thương mại quốc tế được hiểu là quan hệ quốc tế liên quan đến thương mại. Nhưng khái niệm “thương mai” lại được hiểu một cách không thống nhất. Theo quan điểm của WTO, “thương mại” được hiểu là sự trao đôi hàng hoá, dịch vụ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, các vấn đề về sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại. Theo quan điểm của một số tổ chức kinh tế quốc tế hoặc theo luật của một số nước, “thương mại” còn bao hàm cả các van đề liên quan đến doanh nghiệp, tài chính - ngân hàng.
Đó là các cách hiểu về “thương mại” theo nghĩa rộng. Theo nghĩa hẹp, “thương mại” là sự trao déi hàng hoá, còn “thương mại quốc tế” là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá. Việc mở rộng phạm vi “quan hệ thương mại quốc tế” và “quan hệ kinh tế quốc tế” đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Đây không phải là các 12 khái niệm bat biến mà nó sẽ thay đổi theo sự phát triển kinh tế.
Khái niệm nền kinh tế thế giới Nên kinh tế thé giới là tổng thé các nên kinh tế của các quốc gia, có sự phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau, thông qua các quan hệ kinh tế quốc tế. Chính các quan hệ kinh tế quốc tế là bộ phận cốt lõi quyết định sự hình thành nền kinh tế thé giới. Nhờ nó mà các nền kinh tế quốc gia có thé liên kết với nhau, tạo thành một thê thống nhất. Quan hệ kinh tế quốc tế và nền kinh tế thế giới là hai khái niệm, hai phạm trù có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Nền kinh tế thế giới hình thành và phát triển như ngày nay là do hàng loạt các nguyên nhân sau đây: - Sự phân công lao động xã hội ngày càng có xu hướng vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia; - Ở các nước công nghiệp phát triển, việc tổ chức sản xuất các sản pham thường có quy mô rat lớn, vượt xa khả năng tiêu dùng trong nội bộ một quốc gia; - Các điều kiện về giao thông, liên lạc, tài chính. ngày càng phát triển; - Pháp luật và thông lệ quốc tế trong hoạt động kinh tế ngày càng được chấp nhận rộng rãi. Nền kinh tế thế giới chỉ xuất hiện ở một giai đoạn lịch sử nhất định, khi mà sự phân công lao động xã hội vượt ra khỏi biên giới quốc gia, và mang tính chất quốc tế. Nghĩa là chỉ có nên kinh tế thế giới khi xuất hiện sự phân công lao động quốc tế.
Chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế a. Quốc gia Vì quan hệ kinh tế quốc tế trước hết là quan hệ quốc tế, nên chủ thể cơ bản của loại quan hệ đó phải là các quốc gia. Trên thé giới hiện nay có khoảng gần 200 quốc gia tham gia vào quan hệ kinh tế quốc tế. Loại chủ thé này được phân chia làm nhiều loại trên cơ sở các tiêu chí khác nhau.
Các nước giàu, có nền kinh tế mạnh có các tên gọi như: nước công nghiệp phát triển, nước tư bản phát triển, nước phát triển, nước tiên tiến. Còn các nước nghèo được gọi là nước đang phát triển (DCs), nước chậm phát triển hay nước kém phát triển (LDCs). Nếu căn cứ vào GDP tính trên đầu người, các nước được phân chia ra thành nước có thu nhập cao, nước có thu nhập trung bình, và nước có thu nhập thấp. Ngoài ra, căn cứ vào sự tham gia của các nước vào các tô chức quốc tế, người ta còn phân biệt các nước OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế), các nước OPEC (Tổ chức các nước xuất khâu dầu lửa), các nước thuộc khối SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế).
Thời gian gần đây, xuất hiện loại hình các nước công nghiệp mới (NICs). Nói chung, tất cả các cách phân loại nói trên chỉ mang tính quy ước, và được sử dụng không nhất quán trong các tô chức quốc tế và các tài liệu nghiên cứu. WTO không đưa ra tiêu chuẩn về thành viên “phát triển” hay “đang phát triển”. Các thành viên được coi là đang phát triển trên cơ sở tự nhận mình là “đang phát triển”, mặc du điều này không được WTO chấp nhận một cách đương nhiên.org 14 dụ: trường hợp các “con rồng châu Á” (Hàn Quốc, Đài Loan, Hongkong, Singapore) tự nhận mình là các DCs, nhưng không được WTO coi là các DCs.