CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE SỬ DỤNG VON TẠI CÁC DNNN VÀ PHÁP LUẬT ĐIÊU CHỈNH HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG VON TẠI CÁC DNNN Ở VIỆT NAM 1.1 Khái quát về sử dụng vốn tại các DNNN ở Việt Nam 1.1 Khái niệm, đặc điểm DNNN và vốn tại DNNN a. Khái niệm, đặc điểm DNNN Theo các góc độ tiêp cận khác nhau, hiện nay có nhiêu quan điêm khác nhau về DNNN. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, sở hữu toàn dân là tư tưởng chi phối, DNNN đóng vai trò then chốt trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. Theo đó, DNNN được xác định là tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước/công hữu, và được điều hành, kiểm soát về mọi phương diện bởi nhà nước”.
Đồng quan điểm trên, Ngân hàng Thế giới định nghĩa về DNNN như sau: “DNNN là một chủ thể kinh tế mà quyên sở hữu hay quyên kiểm soát thuộc về chính phủ, và phần lớn thu nhập của chúng được tạo ra từ việc ban hàng hoá và dich vụ”? Theo lý thuyết kinh tế thị trường, DNNN là một t6 chức được sử dụng dé chỉ một tổ chức sản xuất hàng hoá và dịch vụ mà giá trị của chúng A ^ Ầ z 2 2 9, z ^ ` ^ A _ ~ 1 A*5 không thuộc về các chủ sở hữu cá nhân mà thuộc vê xã hội > Theo Nguyễn Mạnh Quân, Tái cấu trúc DNNN - một số vấn đề về nguyên tắc và phương pháp tiếp cận, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 193 tháng 7/2013, trang 29 * Ngân hàng thé giới (1999), Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới: Giới quan chức trong kinh doanh, ý nghĩa kinh tế và chính trị của sở hữu nhà nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 28 Rees Ray (1989), Public Enterprise Economics, 2nd Ed., Philip Allan, Deddington, Oxford, trang 1 11 Ở Việt Nam, DNNN có lịch sử tồn tại khá lâu đời và hiện đang giữ vai trò chủ đạo trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Trong từng giai đoạn khác nhau, quan điểm pháp lý về DNNN cũng có những đặc thù và thay đổi nhất định phù hợp với thực tiễn kinh doanh. Thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức trong Nghị định 338/HDBT ngày 20/11/1991 ban hành Quy chế về thành lập và giải thé DNNN, theo đó DNNN được định nghĩa là những tổ chức kinh doanh do nhà nước đầu tư 100% vốn điều lệ”. Luật DNNN số 39-L/CTN đưa ra định nghĩa cụ thể hơn, theo đó DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tô chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao”.
Cũng theo Luật DNNN số 39-L/CTN, DNNN nước tôn tại đưới các hình thức: doanh nghiệp độc lập, tổng công ty, doanh nghiệp thành viên của tong công ty”. Năm 2003, với sự ra đời của Luật DNNN số 14/2003/QHI1 khái niệm DNNN đã có sự thay đôi căn bản. Cụ thể, Theo Điều 1 Luật DNNN 2003, DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cô phan, phan góp vốn chi phối được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cô phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Như vậy, so với khái niệm “DNNN” theo Luật DNNN 1995, khái niệm DNNN theo Luật DNNN 2003 có một số thay đổi như sau: (i) Khái niệm DNNN trong Luật 2003 có nội dung rộng hơn, DNNN bao gém cả DNNN nắm cô phan hay có phan góp vốn chỉ phối; (ii) DNNN được tổ chức theo nhiễu loại hình hơn, bao gôm cả công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cô phán.
Điều 1 Nghị định 388/HDBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 7 Điều 1 Luật DNNN số 39-L/CTN Š Điều 2 Luật DNNN số 39-L/CTN 12 Năm 2005, Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 được ban hành, thay thế cho Luật DNNN số 14/2003/QH11 và Luật doanh nghiệp số 13/1999/QHI0, theo đó DNNN được định nghĩa là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ. Như vậy, so với Luật DNNN sé 14/2003/QH11, hinh thirc tô chức DNNN bị thu hẹp hơn, DNNN chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phan va công ty trách nhiệm hữu hạn; các công ty nhà nước thành lập theo quy định của Luật DNNN năm 2003 phải chuyên đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cô phan’. Năm 2014, với hướng tiếp cận “cởi trói” cho doanh nghiệp và tuân theo các cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường là hạn chế sự can thiệp của nhà nước'°, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có những thay đổi căn bản trong quy định về DNNN. Cụ thể, theo Luật doanh nghiệp 2014, DNNN là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ''.
Quy định chỉ những doanh nghiệp nào do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới được coi là DNNN đã hạn chế số lượng DNNN và mở rộng thành phần doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi “cơ chế nhà nước”. Với quy định này các công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực then chốt như dầu khí, vận tải hàng không, hay các ngân hàng có sở hữu của nhà nước thấp hơn 100% vốn điều lệ đều không còn là DNNN. Các doanh nghiệp này ngoài việc tháo bỏ cái mác DNNN, cải tổ cơ chế quản lý điều hành, quản trị rủi ro thì hoàn toàn có thé cạnh tranh bình đăng với các loại hình doanh nghiệp khác mà không có sự khác biệt nào. Ngoài ra, quy định về hình thức tô chức của DNNN cũng có sự thay đổi, theo đó DNNN chỉ được tổ chức dưới hình ? Khoản 1 Điều 166 Luật doanh nghiệp 2005 !° Theo Hội đồng phối hợp phô biến giáo dục pháp luật trung ương, Pháp luật về Doanh nghiệp, Đặc san Tuyên truyền pháp luật số 3/2015.
!! Khoản 8 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 13 thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do nhà nước làm chủ sở hữu. ~ Như vậy, dưới những góc độ tiếp cận, quan điểm khác nhau đã có nhiều định nghĩa khác nhau về DNNN, tuy nhiên, dù được tiếp cận dưới những góc độ nào thì DNNN của Việt Nam cũng được đặc trưng bởi những khía cạnh sau: (i) Nhà nước dau tư vốn và thành lập DNNN theo một thủ tục đặc biệt Đối với các loại hình doanh nghiệp tư nhân (công ty cô phan, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), việc thành lập doanh nghiệp được xác định là quyền của các tổ chức, cá nhân”. Theo đó, các tô chức, cá nhân trên cơ sở thỏa thuận hoặc dựa trên ý chí cá nhân dé đưa ra quyết định bỏ vốn dé thành lập doanh nghiệp, đồng thời thực hiện các thủ tục đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật. Như vậy, các tổ chức, cá nhân được quyền tự mình quyết định đầu tư vốn, thành lập doanh nghiệp để thực hiện các hoạt động kinh doanh, cơ quan nhà nước chỉ cho phép thành lập trên cơ sở đăng ký kinh doanh của các tổ chức, cá nhân.
Trong khi đó, DNNN được thành lập trên cơ sở Quyết định thành lập của Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh. Mặt khác, nguồn đầu tư vốn điều lệ dé thành lập DNNN và bố Sung vốn điều lệ cho DNNN đang hoạt động từ các nguồn hình thành vốn nhà nước tại doanh nghiệp .Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm phê duyệt '? Theo Khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. ! Khoản 3 Điều 22 Luật Quan lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh nghiệp. 14 vốn điều lệ và đầu tư đủ vốn điều lệ cho DNNN nhăm đảm bảo: (i) Không thấp hơn mức vốn pháp định của ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của DNNN theo quy định cua pháp luật, (ti) Phù hợp với quy mô, cong suất thiết kế đối với ngành, nghệ, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh của DNNN, (iii) Phù hợp với chiến lược, kế hoạch ddu tu phat triển của doanh nghiệp, phù hợp với ngành, nghề kinh doanh chính của DNNN được cấp có thấm quyên phê duyệt; và (iv) Phù hop với phương án sản xuất, kinh doanh của DNNN.
Như vậy, DNNN chỉ được thành lập khi có quyết định thành lập của Cơ quan nhà nước có thấm quyền và nguồn vốn để thành lập DNNN do nhà nước đảm bảo từ các nguồn hình thành vốn nhà nước tại doanh nghiệp (vốn từ ngân sách nhà nước, vốn tiếp nhận có nguồn gốc từ ngân sách nha nước; vốn từ quỹ dau tư phát triển tại doanh nghiệp, quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn khác được tại các DNNN) (ii) Nhà nước sở hữu 100% vốn Điều lệ trong DNNN Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp được xác định là DNNN khi tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà nước trong doanh nghiệp đó là 100%. Trong khi đó, ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia. (những nước cũng còn nhiều DNNN tại các lĩnh vực quan trọng như điện, nước, viễn thông, ngân hàng, hàng không.) những doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ từ 20% trở lên đã được xác định là DNNN°. Như vậy, việc xác định chỉ những doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới là DNNN được xem là đặc trưng của DNNN của Việt Nam.
“Theo ông Nguyễn Hoàng Hải, Tổng Thu ký Hiệp hội Các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAF]) - https://www.aspx?catid=202 1 &mconid=138 6 15 (ii) Toàn bộ vốn và tài sản của DNNN thuộc sở hữu 100% của nhà nước DNNN do nhà nước đầu tư 100% vốn nên nó thuộc sở hữu nhà nước, tài sản của DNNN là một bộ phận của tài sản nhà nước. DNNN sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh, DNNN được quản lý bởi các “người đại diện”. Tuy nhiên, “người đại điện” không có quyền sở hữu đối với tài sản trong doanh nghiệp mà chỉ là người quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của nhà nước. Nhà nước giao trách nhiệm quản lý phần vốn cho “người đại diện”, “người đại diện” phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn mà nhà nước giao.
(iv) DNNN do nhà nước tổ chức quan lý và hoạt động theo mục tiêu kinh té xã hội do nhà nước giao.