Tổng quan nghiên cứu

Trong nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa sâu rộng, nguồn nhân lực khoa học công nghệ (KH&CN) giữ vị trí then chốt, quyết định năng lực cạnh tranh và sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Thực tiễn phát triển của Nhật Bản – một quốc gia có diện tích 378 nghìn km² với dân số 127,395 triệu người (năm 2009), vốn nghèo nàn về tài nguyên khoáng sản nhưng đã vươn lên thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới – là minh chứng sinh động cho chiến lược coi trọng nhân tố con người và phát triển tiềm lực KH&CN vượt bậc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa với thực trạng phát triển nguồn nhân lực KH&CN trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm ba nội dung chính: thứ nhất, hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn nhân lực KH&CN; thứ hai, phân tích sâu sắc thực trạng, cơ chế quản lý và chính sách phát triển nhân lực KH&CN của Nhật Bản từ thập niên 1990 đến năm 2009; thứ ba, đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn nhằm đề xuất giải pháp phát triển nhân lực KH&CN cho Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào Nhật Bản có sự đối sánh với các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore và thực tiễn tại Việt Nam; phạm vi thời gian giới hạn từ thập niên 1990 đến năm 2009. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi Ngân hàng Thế giới từng đánh giá 1 đồng vốn đầu tư cho khoa học mang lại hiệu quả gấp 10 lần so với đầu tư xã hội thông thường. Trong khi đó, tại thời điểm nghiên cứu, mức đầu tư cho KH&CN của Việt Nam mới đạt khoảng 2% tổng chi ngân sách nhà nước (tương đương 0,5% GDP, khoảng 400 triệu USD), đòi hỏi một bước chuyển biến chiến lược để tạo đột phá kinh tế - xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Vốn con người (Human Capital Theory) do Gary Becker – nhà kinh tế học đoạt giải Nobel năm 1992 – khởi xướng, khẳng định đầu tư vào con người và tri thức mang lại tỷ suất sinh lời vượt trội so với mọi nguồn lực vật chất khác. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết Hệ thống Đổi mới Quốc gia (National Innovation System) nhằm phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nhà nước trong việc nuôi dưỡng nguồn nhân lực sáng tạo.

Hệ thống khái niệm nền tảng được định hình theo Cẩm nang Canberra (1995) của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và các tiêu chuẩn của UNESCO:

  • Nguồn nhân lực KH&CN: Bao gồm những người đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng trong các lĩnh vực KH&CN hoặc những người chưa có bằng cấp tương đương nhưng đang đảm nhiệm công việc KH&CN đòi hỏi trình độ tương ứng.
  • Phân loại lao động KH&CN: Chia thành hai nhóm gồm nhân lực KH&CN không trực tiếp sản xuất (công tác tại viện nghiên cứu, trường đại học phục vụ nghiên cứu cơ bản và giảng dạy) và nhân lực KH&CN trực tiếp sản xuất (hoạt động tại phòng kỹ thuật, viện nghiên cứu của doanh nghiệp).
  • Hao phí trí óc: Nhân lực KH&CN là lao động trí óc chất lượng cao, trong đó hao phí lao động trí óc chiếm từ 30% trở lên trong tổng hao phí lao động.
  • Tính lưu động và chảy máu chất xám: Phản ánh sự dịch chuyển của nhân tài KH&CN giữa các khu vực và quốc gia; tại các quốc gia phát triển, tỷ lệ lưu động từ viện trường sang công nghiệp diễn ra mạnh mẽ nhất ở nhóm nghiên cứu trẻ.
  • Độ trễ và tính rủi ro của đầu tư R&D: Tỷ lệ nghiên cứu cơ bản chuyển hóa thành công sang sản phẩm thương mại chỉ đạt khoảng 10% đến 20%, chu kỳ từ nghiên cứu đến ứng dụng thương mại hóa thường kéo dài trung bình từ 7 đến 9 năm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội trong sự vận động và phát triển liên tục.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ các cơ quan uy tín quốc tế và trong nước, bao gồm Viện Thống kê UNESCO (UIS), Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF), cơ sở dữ liệu OECD, Báo cáo Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2003 của Bộ KH&CN, cùng các số liệu thống kê chính thức của chính phủ Nhật Bản và các báo cáo khảo sát từ công ty kiểm toán PricewaterhouseCoopers.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm bộ dữ liệu bảng đa quốc gia qua chuỗi thời gian từ năm 1990 đến năm 2009, tập trung so sánh cấu trúc chỉ số giữa Nhật Bản, Hoa Kỳ, khối Liên minh Châu Âu (EU), Hàn Quốc, Singapore và Việt Nam. Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu có chủ đích nhằm tập trung vào các quốc gia có chiến lược nhân lực KH&CN đột phá.

Phương pháp phân tích tổng hợp, phân tích thống kê mô tả, so sánh đối chiếu đa chiều và phương pháp quy nạp - diễn dịch được lựa chọn nhằm bóc tách các chính sách thành công, làm rõ tính tương thích và khả năng thích ứng của các mô hình quản lý nhân lực KH&CN khi chuyển giao vào bối cảnh thể chế của Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Nhật Bản duy trì tỷ lệ đào tạo nhân lực khoa học kỹ thuật ở mức áp đảo. Tỷ lệ bằng cấp thuộc khối ngành khoa học và kỹ thuật của Nhật Bản chiếm tới 68% tổng số bằng đại học và sau đại học được cấp, cao vượt trội so với mức 25% tại Hoa Kỳ. Mạng lưới các nhà nghiên cứu của Nhật Bản đạt quy mô hàng đầu thế giới tính trên 1 vạn dân và tỷ lệ cán bộ nghiên cứu trên 1.000 lao động tăng trưởng vững chắc trong suốt giai đoạn 1990 - 2007.

Thứ hai, cấu trúc chi tiêu cho Nghiên cứu và Phát triển (R&D) gắn liền với khu vực tư nhân. Nhật Bản duy trì đầu tư R&D ở mức trên 3% GDP. Tỷ trọng chi tiêu R&D của khối doanh nghiệp chiếm hơn 70% tổng mức đầu tư quốc gia, hình thành mạng lưới các viện nghiên cứu trực thuộc doanh nghiệp có quy mô từ hàng nghìn chuyên gia. Mô hình này giúp rút ngắn đáng kể khoảng cách giữa nghiên cứu ứng dụng và sản xuất hàng hóa thương phẩm.

Thứ ba, sự cạnh tranh toàn cầu trong thu hút chất xám diễn ra quyết liệt. Dữ liệu từ Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF) cho thấy vào năm 2000, tỷ lệ tiến sĩ gốc nước ngoài trong ngành kỹ thuật điện tại Hoa Kỳ đã lên tới 47%; người nhập cư chỉ chiếm 12% dân số nhưng khởi tạo 52% số công ty công nghệ tại Thung lũng Silicon và đóng góp hơn 25% số bằng sáng chế toàn cầu của Hoa Kỳ. Tương tự, Singapore vươn lên dẫn đầu nhóm 29 nền kinh tế dưới 20 triệu dân về thu hút nhân tài thông qua cơ quan Contact Singapore với 10 văn phòng quốc tế, thu hút hàng trăm nghìn chuyên gia ngoại quốc mà chỉ có 3% doanh nghiệp gặp vướng mắc về thủ tục nhập cư so với mức 46% tại Hoa Kỳ.

Thứ tư, tính cấp thiết của cơ chế tài trợ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Các quốc gia tiên phong liên tục tái cấu trúc chính sách tài chính KH&CN: Hàn Quốc triển khai Sáng kiến 577 với ngân sách 64,2 tỷ USD nhằm nâng đầu tư R&D lên 5% GDP (giai đoạn 2008 - 2012), trong đó dành 25% cho nghiên cứu cơ bản; EU đặt mục tiêu nâng ngân sách R&D từ 0,74% GDP (năm 2005) lên 3% GDP.

Thảo luận kết quả

Sự vượt trội của Nhật Bản bắt nguồn từ sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách trọng dụng hiền tài quốc gia và hệ thống chứng chỉ nghề nghiệp chuẩn hóa như hệ thống kỹ sư chuyên nghiệp Gijyutsushi. Nhật Bản đã khắc phục triệt để tư duy quản lý hành chính bình quân chủ nghĩa bằng cách trao quyền tự chủ tối đa cho các viện nghiên cứu trực thuộc doanh nghiệp, gắn đãi ngộ vật chất với giá trị gia tăng của phát minh sáng chế.

Trái lại, tại Việt Nam giai đoạn 1990 - 2009, năng suất tạo ra giá trị của lao động KH&CN còn khoảng cách khá xa so với khu vực. Trong khi một lao động công nghệ cao tại các tập đoàn quốc tế tạo ra giá trị xuất khẩu lên tới 500.000 USD/năm (năm 2004), thì mức đóng góp GDP bình quân của một lao động Việt Nam năm 2007 chỉ đạt khoảng 1.500 USD. Nhiều công trình nghiên cứu trong nước phải mất 7 năm để chuyển giao ứng dụng hoặc chịu cảnh lưu kho do thiếu sự kết nối với thị trường chế tạo.

Bức tranh so sánh này có thể được hình dung rõ nét qua biểu đồ cột thể hiện tương quan đầu tư R&D/GDP (Nhật Bản duy trì trên 3,2%, Hàn Quốc đạt 3,5%, trong khi Việt Nam ở mức khoảng 0,5%) và biểu đồ đường thể hiện xu hướng gia tăng số lượng cán bộ nghiên cứu trên 1.000 lao động. Điều này giải thích tại sao năng lực chuyển hóa công nghệ tại Việt Nam còn hạn chế, dù tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức trong nước là rất lớn nếu được đầu tư thỏa đáng như bài học tiết kiệm 350 triệu USD chi phí đầu tư và 400 triệu USD nhiên liệu tại Nhà máy điện Phú Mỹ 1 nhờ ý kiến phản biện công nghệ của các nhà khoa học.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bài học thành công từ Nhật Bản và kinh nghiệm quốc tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao:

  1. Tái cấu trúc phân bổ tài chính và nâng dần mức đầu tư R&D quốc gia
  • Hành động: Nâng dần tổng mức chi cho hoạt động KH&CN từ mức 0,5% GDP lên mức mục tiêu tối thiểu 1,5% - 2,0% GDP trong lộ trình 5 đến 10 năm tiếp theo, trong đó dành ít nhất 20% ngân sách R&D cho nghiên cứu cơ bản.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp cùng Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
  1. Khuyến khích thành lập và bảo trợ mạng lưới viện nghiên cứu trực thuộc doanh nghiệp
  • Hành động: Ban hành chính sách miễn giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận tái đầu tư vào các trung tâm R&D nội bộ; hỗ trợ thủ tục cấp đất và trang thiết bị đo kiểm. Mục tiêu đạt tối thiểu 50 viện nghiên cứu doanh nghiệp quy mô lớn trong giai đoạn 2010 - 2015.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công Thương và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
  1. Xóa bỏ cơ chế quản lý bình quân, chuyển sang đấu thầu cạnh tranh và khoán chi theo sản phẩm cuối cùng
  • Hành động: Đổi mới 100% quy trình xét duyệt đề tài khoa học sang hình thức đấu thầu công khai dựa trên năng lực và tính khả thi thương mại; thực hiện chính sách nâng lương trước thời hạn và chi trả thù lao đặc biệt tương đương mức của các tổ chức quốc tế đối với chủ nhiệm đề tài xuất sắc; giảm thời gian thẩm định và thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ 7 năm xuống dưới 4 năm.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
  1. Xây dựng chiến lược thu hút nhân tài và kết nối mạng lưới trí thức kiều bào
  • Hành động: Thành lập cơ quan điều phối mạng lưới nhân tài quốc gia tương tự Contact Singapore nhằm cung cấp dịch vụ kết nối việc làm, cấp thị thực ưu tiên và đãi ngộ nhà ở đặc biệt cho các nhà khoa học xuất sắc nước ngoài và kiều bào; đặt mục tiêu thu hút 5.000 chuyên gia công nghệ cao về làm việc và chuyển giao công nghệ tại các khu công nghệ cao trong giai đoạn 2010 - 2020.
  • Chủ thể thực hiện: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ và Ủy ban Nhân dân các thành phố trọng điểm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà hoạch định chính sách tại các Bộ, Ngành (Bộ KH&CN, Bộ GD&ĐT, Bộ Kế hoạch & Đầu tư)
  • Lợi ích: Tiếp cận cơ sở dữ liệu quốc tế so sánh để thiết kế chiến lược quy hoạch nguồn nhân lực, cải cách cơ chế tài chính công trong nghiên cứu khoa học và xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về trọng dụng nhân tài.
  1. Lãnh đạo doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế và các hiệp hội ngành nghề
  • Lợi ích: Nắm bắt mô hình tổ chức viện nghiên cứu trong lòng doanh nghiệp theo tiêu chuẩn của các tập đoàn công nghệ Nhật Bản, từ đó tối ưu hóa chi phí đầu tư R&D nhằm gia tăng giá trị sản phẩm.
  1. Ban giám hiệu các trường đại học, lãnh đạo các viện nghiên cứu chuyên ngành
  • Lợi ích: Tham khảo kinh nghiệm đổi mới chương trình đào tạo kỹ sư theo định hướng thực hành, phương thức liên kết đại học - doanh nghiệp và cơ chế giữ chân các nhà khoa học trẻ có năng lực sáng tạo cao.
  1. Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Kinh tế đối ngoại, Quản lý KH&CN, Đông phương học
  • Lợi ích: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu so sánh quốc tế, hệ thống hóa khung lý thuyết và trích xuất số liệu lịch sử về quá trình chuyển đổi mô hình nhân lực tại Đông Á.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao nguồn nhân lực KH&CN lại được coi là yếu tố quyết định sức mạnh cạnh tranh quốc gia? Nguồn nhân lực KH&CN là lực lượng trực tiếp tạo ra công nghệ và tối ưu hóa các yếu tố sản xuất khác. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2002 chỉ ra rằng đầu tư 1 đồng cho khoa học tạo ra lợi ích gấp 10 lần đầu tư xã hội nói chung, giúp các nước nghèo tài nguyên như Nhật Bản hay Hàn Quốc bứt phá kinh tế thần kỳ.

  2. Điểm khác biệt lớn nhất trong cơ cấu nhân lực KH&CN của Nhật Bản so với các nước phương Tây là gì? Nhật Bản tập trung tỷ trọng áp đảo vào khối kỹ thuật ứng dụng với 68% bằng cấp tốt nghiệp thuộc ngành KH&CN (so với 25% tại Hoa Kỳ). Đồng thời, lực lượng nghiên cứu của Nhật Bản chủ yếu nằm trong các viện nghiên cứu thuộc doanh nghiệp tư nhân, giúp sản phẩm công nghệ thương mại hóa nhanh chóng.

  3. "Độ trễ" trong đầu tư KH&CN là gì và các nhà quản lý cần nhìn nhận ra sao? Độ trễ là khoảng cách thời gian từ khi nghiên cứu đến khi tạo ra doanh thu, trung bình mất từ 7 đến 9 năm trên thế giới. Điển hình như các nghiên cứu về giống ngô lai hay thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam cần từ 14 đến gần 30 năm mới chiếm lĩnh thị phần, đòi hỏi chính sách đầu tư dài hạn, kiên trì.

  4. Việt Nam cần làm gì để hạn chế tình trạng "chảy máu chất xám" và thu hút chuyên gia giỏi? Cần xây dựng môi trường làm việc thông thoáng, xóa bỏ cơ chế hành chính bình quân và áp dụng chế độ thù lao theo đóng góp thực tế. Học tập mô hình Contact Singapore, nhà nước cần chủ động kết nối, cung cấp cơ chế đãi ngộ vượt trội về thu nhập và điều kiện nghiên cứu để thu hút chuyên gia kiều bào.

  5. Doanh nghiệp Việt Nam có thể học tập được gì từ mô hình R&D của các tập đoàn Nhật Bản? Doanh nghiệp cần chủ động lập phòng kỹ thuật hoặc viện nghiên cứu nội bộ, liên kết đơn đặt hàng trực tiếp với các trường đại học thay vì chỉ dựa vào công nghệ nhập khẩu. Việc dành một phần doanh thu nhất định cho R&D sẽ biến doanh nghiệp thành chủ thể đổi mới sáng tạo, nâng cao biên lợi nhuận sản phẩm.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, làm rõ nội hàm, đặc điểm và vai trò sống còn của nguồn nhân lực KH&CN đối với tăng trưởng kinh tế bền vững.
  • Phân tích sâu sắc kinh nghiệm thực tiễn của Nhật Bản từ thập niên 1990: kết hợp giữa đào tạo kỹ thuật quy mô lớn (68% bằng cấp KH&CN), đẩy mạnh R&D doanh nghiệp trên 3% GDP và xây dựng hệ thống kỹ sư chuyên nghiệp.
  • Đánh giá thẳng thắn các điểm nghẽn của Việt Nam về tỷ lệ đầu tư thấp (khoảng 0,5% GDP), cơ chế quản lý bình quân và chu kỳ thương mại hóa đề tài kéo dài.
  • Kiến nghị hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá: nâng ngân sách R&D, ưu đãi thuế cho viện nghiên cứu doanh nghiệp, khoán chi theo sản phẩm đầu ra và thành lập cơ quan thu hút nhân tài quốc tế.
  • Khẳng định phát triển nhân lực KH&CN là quốc sách hàng đầu, là chìa khóa quyết định sự thành bại của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Phượng là một đóng góp học thuật nghiêm túc, mang lại giá trị tham khảo sâu sắc cho các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu. Để vận dụng hiệu quả các bài học này vào thực tiễn phát triển kinh tế giai đoạn mới, các nhà quản lý, lãnh đạo viện - trường và doanh nghiệp hãy khai thác chi tiết các mô hình và số liệu phân tích trong toàn văn luận văn.