Chương 1: VAI TRÒ ĐẦU TƯ MẠO HIỂM ĐỐI VỚI VIỆC ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Đầu tư mạo hiểm.19 Chương 2: ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TẠI VIỆT NAM VÀ CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUỐC TẾ.
Thực trạng hoạt động đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam và quốc tế. Thực tiễn đầu tư của nhà đầu tư Việt Nam khi đầu tư vào dự án/công ty KH&CN khởi nghiệp. Những thuận lợi và khó khăn trong việc hình thành và phát triển ĐTMH vào ươm tạo doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.55 Chương 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ MẠO HIỂM CHO HOẠT ĐỘNG ƯƠM TẠO DOANH NGHIỆP KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ.
Nguyên tắc đềxuấtvào các văn bản quy phạm pháp luật. Các đề xuất chính sách.65 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 67 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT KH&CN Khoa học và công nghệ ĐTMH Đầu tư mạo hiểm PTTTDN Cục Phát triển thị trường và doanh nghiệp khoa học và công nghệ OECD Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế IPO Phát hành công khai lần đầu ( Initial Public Offering) VC Venture capital funds GVC Government venture capital DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH Hình 1: Các giai đoạn khởi nghiệp phân loại theo nhu cầu vốn.6 Hình 2: Giai đoạn cần vốn đầu tư mạo hiểm.27 Hình 3: Các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp.33 Hình 4: Vốn đầu tư mạo hiểm các doanh nghiệp Châu Âu huy động được.43 Hình 5: Số lượng các khoản đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2015.50 Hình 6: Số lượng giao dịch và tổng số tiền đầu tư mạo hiểm vào doanh nghiệp khởi nghiệp (đơn vị triệu đô la). Tính cấp thiết của đề tài Việc xây dựng và phát triển thị trường KH&CN là mục tiêu đặt ra cho rất nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là những nước đang phát triển.Chính phủ các nước đó đều hiểu rằng một thị trường KH&CN hoạt động hiệu quả và mạnh mẽ sẽ trở thành đòn bẩy đưa nền kinh tế phát triển một cách nhanh chóng và bền vững.
Trên thế giới, một trong những phương pháp phổ biến để thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển chính là việc đầu tư cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực khoa học – công nghệ nhằm phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp. Trong các nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động này nổi bật lên 2 vấn đề chính: (1) nghiên cứu về đầu tư cho hoạt động ươm tạo nói chung và (2) nghiên cứu về đầu tư trực tiếp cho đối tượng doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp. Hiện nay, hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN được thực hiện ở một số dạng chính sau: (1) hoạt động hỗ trợ hoàn thiện công nghệ; (2) hoạt động đào tạo, tư vấn về mô hình kinh doanh, quản trị doanh nghiệp, xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường, sở hữu trí tuệ…; (3) Hoạt động hỗ trợ gọi vốn đầu tư cho doanh nghiệp; và (4) hoạt động trực tiếp đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Xuất phát từ nhu cầu khác nhau trong các giai đoạn ươm tạo, phát triển của doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp thông qua hoạt động của các cơ sở ươm tạo (incubators) và hỗ trợ các doanh nghiệp non trẻ thông qua hoạt động của các tổ chức thúc đẩy kinh doanh (business accelarators).
Nhà nước cũng cần có chính sách đầu tư ban đầu dưới dạng cấp vốn mồi (seed money) cho các nhóm khởi nghiệp và hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp khởi nghiệp 1 (tài trợ, hỗ trợ đầu tư nghiên cứu thử nghiệm, cho vay ưu đãi, cho vay có thể chuyển đổi thành cổ phần. Chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu của Nhà nước cho các doanh nghiệp khởi nghiệp là tác nhân quan trọng để thu hút các nguồn vốn đầu tư của xã hội cho hoạt động ươm tạo, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp. Chính sách đầu tư của Nhà nước cần hướng đến sự quan tâm của các nhà đầu tư xã hội có ý nghĩa quan trọng hình thành nên hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp, bao gồm các nhà đầu tư thiên thần (angel investors), các quỹ đầu tư mạo hiểm (venture capitals) và các công ty đầu tư (corporate investors). Nhà nước cần liên kết với khu vực tư nhân để đầu tư phát triển mạng lưới các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh.Đồng thời, các chương trình hỗ trợ đầu tư của Nhà nước dành cho các doanh nghiệp khởi nghiệp cần được quản lý hiệu quả với cơ chế đặc thù để thực sự trở thành các nhân tố tiền đề tạo nên hệ sinh thái hỗ trợ doanh nhân công nghệ khởi nghiệp tại Việt Nam.
Ở Việt Nam, hầu hết các hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN diễn ra ở các cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN công lập. Tuy nhiên, hình thức ươm tạo ở các cơ sở này hầu hết chỉ dừng lại ở việc cung cấp mặt bằng và một số cơ sở vật – chất dùng chung hoặc cung cấp tài chính cho việc nghiên cứu, phát triển hoàn thiện công nghệ, chứ chưa có hoạt động trực tiếp cung cấp nguồn tài chính cho doanh nghiệp khởi nghiệp. Hoạt động của những cơ sở ươm tạo này được đánh giá là chưa có hiệu quả bởi số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp tốt nghiệp khởi các cơ sở này là chưa cao. Trong khi đó, hầu hết những doanh nghiệp đã đăng ký doanh nghiệp KH&CN mà Cục PTTTDN tổng hợp được đều không đi qua quá trình ươm tạo doanh nghiệp KH&CN chuyên nghiệp nào.
Theo phân tích ban đầu của nhóm nghiên cứu, hoạt động cấp vốn trực 2 tiếp cho doanh nghiệp được coi là hoạt động không thể thiếu được trong quá trình ươm tạo doanh nghiệp và nhất là đối với doanh nghiệp khởi nghiệp dựa trên công nghệ. Trong hoạt động này, vai trò tham gia của Nhà nước là vô cùng quan trọng bởi thời kỳ khởi nghiệp của doanh nghiệp KH&CN là thời kỳ rủi ro nhất trong quá trình phát triển của doanh nghiệp mà các nhà đầu tư tư nhân, nhất là những nhà đầu tư tại Việt Nam không muốn tham gia. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động đầu tư mạo hiểm thực tế hầu hết được thực hiện bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm của nước ngoài như IDG Ventures hay Cyber Agents và bản thân họ chỉ chú trọng vào đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin với chu kỳ đầu tư ngắn và khoản đầu tư ban đầu không cao. Như vậy có thể nói doanh nghiệp khởi nghiệp trong các lĩnh vực KH&CN không phải công nghệ thông tin như lĩnh vực vật lý, hóa học, công nghệ sinh học, hay những lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ có giá trị đối với người nông dân, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường,… đang bị các nhà đầu tư tư nhân “lãng quên” vì lý do lợi nhuận, rất cần được Nhà nước quan tâm trong chính sách đầu tư phát triển các cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, hỗ trợ nguồn vốn khởi nghiệp ban đầu và hỗ trợ thúc đẩy kinh doanh của các doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp.
Nguồn gốc sâu xa của đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo doanh nghiệp KH&CN là nuôi dưỡng nguồn thu cho tương lai với những đối tượng tiềm năng lớn. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư luôn hàm chứa yếu tố rủi ro. Hay nói cách khác, rủi ro cao luôn song hành với đầu tư mạo hiểm. Việc chấp nhận điều này, đồng thời có cơ chế quản lý và xử lý rủi ro phù hợp là cần thiết trong khuyến khích đẩy mạnh các hình thức đầu tư mạo hiểm đối với ươm tạo doanh nghiệp KH&CN.
Hiện tại các luật như Luật doanh nghiệp, Dự thảo Luật quản lý sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ 3 Luật hình sự (trong mối liên quan với các luật nội dung) vẫn chưa thể hiện rõ các chính sách khuyến khích nói trên, thậm chí còn có một số rào cản đối với các chủ thể tham gia trong hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp. Ví dụ, việc Nhà nước đầu tư “vốn mồi” cho doanh nghiệp khởi nghiệp chưa được cho phép trong bất kỳ văn bản luật hay dự luật nào nói trên. Mặc dù tại Luật Đầu tư 2014 đã có quy định ưu đãi đầu tư mạo hiểm, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao, tuy nhiên các quy định về đầu tư của Nhà nước trong các hoạt động này chưa được quy định cụ thể[18]. Mặt khác, ở cả Luật doanh nghiệp (sửa đổi) và Dự thảo Luật quản lý sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp đều có những quy định chặt chẽ buộc người đại diện vốn nhà nước chịu trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn đầu tư của Nhà nước trong doanh nghiệp, không có ngoại lệ nào cho hoạt động đầu tư ươm tạo doanh nghiệp nghiệp khoa học và công nghệ.
Quy định đó sẽ làm nản lòng những cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh, người được giao quản lý các chương trình hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp. Chính vì những lý do nêu trên, để tạo điều kiện cho đầu tư của Nhà nước/đầu tư có sự tham gia của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, Luận văn này tập trung vào các nội dung chính sau: - Nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về các loại hình đầu tư của Nhà nước cho hoạt động ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN và tác động của nó trong hình thành hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước. - Nghiên cứu thực trạng chính sách, thực tiễn hoạt động đầu tư của Nhà nước và của tư nhân cho ươm tạo và phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam; nhu cầu phát triển hệ sinh thái hỗ trợ khởi nghiệp trong nước. - Đề xuất một số chính sách cụ thể khuyến khích đầu tư của Nhà nước và thúc đẩy đầu tư mạo hiểm từ xã hội cho hoạt động ươm tạo doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài * Tình hình nghiên cứu quốc tế: Theo các nghiên cứu nước ngoài, hoạt động đầu tư mạo hiểm thường được gắn liền với các doanh nghiệp KH&CN trong giai đoạn đầu, hay còn gọi là doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp (technology startup).