CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TIẾN BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Hoạt động khoa học và công nghệ với tư cách là đối tượng quản lý 1. Khoa học Khoa học là một khái niệm rộng lớn được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau từ đó có những nhìn nhận khác nhau, nhưng mọi cách nhìn nhận đều coi khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại về tự nhiên, xã hội mà con người được tích luỹ trong quá trình lịch sử. Theo UNESCO khoa học là "Hệ thống các tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.4 Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống khoa học, khác với tri thức kinh nghiệm.
Theo luật KH&CN năm 2000 "Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”;5 Khoa học được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và sự vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo các nguyên lý, các giải pháp tác động vào các sự vật, hiện tượng nhằm biến đổi trạng thái của chúng. Khoa học ngày nay đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp của một cộng đồng xã hội, đó là một dạng lao động xã hội đặc biệt, với một đặc điểm khó tìm thấy trong một hoạt động xã hội khác. Đó là việc tìm kiếm những điều chưa biết và phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình tìm kiếm. Từ các định nghĩa trên ta thấy có hai khía cạnh khác nhau: Khoa học là "hệ thống tri thức" mang tính chất quy luật với vai trò nhiệm vụ của nó bao gồm hai chức năng, nhận thức và cải tạo thế giới.
Mặt khác khoa học cũng được coi là một "hệ thống thiết chế", một hệ thống hoạt động. Khi nói đến quản lý khoa học, ta thường chú ý tới khía cạnh thiết chế của khoa học, khoa học với tư cách là một hoạt động xã hội của loài người, và mục tiêu của quản lý là làm cho nó phát triển đúng hướng, mang lại hiệu quả tốt nhất cho sự phát triển và nhu cầu của xã hội. 4 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận Nghiên cứu Khoa học ghiên cứu Khoa học, NXBGD, 2009, sđd trang 12 5 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2000). Công nghệ Thuật ngữ Công nghệ có xuất xứ từ hai từ trong tiếng Hy Lạp cổ: “techno” - có nghĩa là tài năng, nghệ thuật, kỹ thuật, sự khéo léo và “logy” - có nghĩa là lời lẽ, ngôn từ, cách diễn đạt, học thuyết.
Theo đó, "công nghệ" được hiểu theo hai nghĩa: Công nghệ là "khoa học làm", khoa học ứng dụng, nhằm vận dụng các qui luật tự nhiên, các nguyên lý khoa học để đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người; Công nghệ là các phương tiện kỹ thuật, là sự thể hiện vật chất hoá các tri thức khoa học ứng dụng vào thực tiễn. Theo định nghĩa của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asian and the Pacific - ESCAP) đưa ra: ”Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp sử dụng trong sản xuất chế tạo, dịch vụ, quản lý, thông tin” -6. Định nghĩa này không coi công nghệ phải gắn chặt với quá trình sản xuất chế tạo ra các sản phẩm cụ thể, mà nó mở rộng khái niệm công nghệ ra các lĩnh vực dịch vụ và quản lý.
Do vậy, nó được coi là một bước ngoặt trong lịch sử quan niệm về công nghệ. Cũng như trong điều 3 “Luật chuyển giao công nghệ” đã ghi rõ: ”Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” 7. Theo thống nhất của các Tổ chức Quốc tế về công nghiệp và theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì công nghệ được thể hiện trong bốn thành phần: - Phần kỹ thuật: Phần cứng của công nghệ bao gồm máy móc, dụng cụ, nhà xưởng… - Phần con người: Bao gồm kỹ năng tay nghề của đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển và quản lý dây chuyền thiết bị. - Phần thông tin: Bao gồm tư liệu, dữ liệu, bản mô tả sáng chế, bí quyết kỹ thuật.
- Phần tổ chức: Bao gồm các hoạt động về phân bổ nguồn lực, tạo lập mạng lưới sản xuất, tuyển dụng và khuyến khích nhân lực… 6 Đặng Duy Thịnh, Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, bài giảng chuyên đề, Hà Nội 1998. 7 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật chuyển giao công nghệ (2006). 6 z Một luận điểm chung quan trọng được rút ra từ những quan điểm hiện tại về công nghệ là: khoa học và kỹ thuật là yếu tố nền tảng của công nghệ, còn quản lý là yếu tố gắn kết các yếu tố của công nghệ thành một hệ thống và có ý nghĩa quyết định đến sự triển khai và thành bại của công nghệ. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Khoa học có thể xem như là sự tìm kiếm các quy tắc chế ngự các hiện tượng tự nhiên không tính đến sự áp dụng khả dĩ đối với cuộc sống con người.
Với ý nghĩa như vậy, khoa học đơn giản chỉ là sự thay đổi tri thức đã có trực tiếp một cách có lợi cho đời sống con người hoặc quá trình sản xuất hàng hoá. Vì vậy công nghệ đóng góp vào sự phát triển, trong khi đó khoa học lại có thể tạo ra tiến bộ công nghệ. Công nghệ thâm nhập vào tất cả các nền văn hoá, xã hội và các cá nhân bằng tính hữu dụng của nó. Thậm chí, nếu công nghệ được tạo ra một cách hoàn toàn khoa học, nó vẫn là công nghệ chứ không phải là khoa học.
Cơ sở của các công nghệ thuở ban đầu được phát triển qua kinh nghiệm theo nguyên tắc vận dụng, mò mẫm đã không giải thích được bằng việc áp dụng tri thức khoa học cho đến mãi sau này. Theo cách đó, công nghệ đã trở thành sự kích thích phát triển khoa học. Những chuẩn bị lớn lao về công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của nhiều thành tựu trong khoa học ngày nay. Việc thấu hiểu các nền tảng khoa học trong những lĩnh vực rất xa nhau như khoa học hạt nhân, hàng không, giải phẫu tim và sinh học tế bào,… phụ thuộc rất nhiều vào cái có sẵn của công nghệ để tiến hành các nghiên cứu cần thiết.
Kỷ nguyên đương đại đã chứng kiến sự tăng trưởng phi thường của các ngành công nghệ dựa trên khoa học. Ở đây công nghệ đi sau khoa học, ngược lại với quá trình trước kia. Ngày nay có thể phân biệt hai cách tiếp cận cơ bản đối với sự liên kết của khoa học và công nghệ. Theo cách tiếp cận thứ nhất, người ta tìm kiếm các cơ hội công nghệ mới nhen lên từ các phát triển trong khoa học.
Theo cách tiếp cận thứ hai, sự triển khai giải pháp công nghệ có tính cách tân nhằm đáp ứng một nhu cầu KT-XH sẽ kích thích các nghiên cứu khoa học cơ bản. Như vậy, khoa học và công nghệ trở nên gắn bó khăng khít với nhau và đảm trách vai trò dẫn dắt trong phát triển các ngành kinh tế hiện tại. Sự sóng đôi 7 z khoa học và công nghệ đã dẫn tới những thành tựu đáng kể trong hai lĩnh vực khoa học công nghệ. Chỉ có công nghệ mới thực sự đóng góp cho sự phát triển, còn khoa học chỉ có thể tạo ra tiến bộ công nghệ.
Công nghệ được sử dụng hôm nay làm cho ngày mai tốt đẹp hơn và khoa học hôm nay có thể là công nghệ của ngày mai. Tuy nhiên khác với khoa học, công nghệ không công khai với mọi ngư ời. Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động khoa học là hoạt động xã hội, là nhân tố cơ bản tạo ra sự phong phú trong đời sống tinh thần, là nhân tố quyết định tạo ra sự giàu có về đời sống vật chất cho xã hội loài người. Hoạt động khoa học là lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp vì nó khám phá ra các tri thức về thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
Nó sáng tạo ra các nguyên lý giải pháp mới hay sáng tạo ra các mô hình kỹ thuật quản lý xã hội mới phục vụ cho con người cải tạo thế giới, phát triển kinh tế xã hội, văn hóa. Hoạt động khoa học tạo nên tính sáng tạo, tính mới, mang tính rủi ro cao và đặc biệt vai trò cá nhân trong hoạt động khoa học rất lớn. Thực tiễn sản xuất, hoạt động xã hội đặt ra nhiều vấn đề cho khoa học giải quyết và đòi hỏi khoa học đưa ra những căn cứ, những nguyên lý giải pháp hay mô hình để phát triển tri thức, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội phục vụ cho xã hội. Hoạt động công nghệ là tất cả những hoạt động liên quan đến các quá trình nghiên cứu - triển khai sản xuất và thị trường áp dụng công nghệ.
Nội dung chính của hoạt động công nghệ là biến các tri thức tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến thành những yếu tố của sản xuất nhằm nâng cao sức sản xuất của xã hội và con người. Hoạt động công nghệ là hoạt động tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới gồm các bước triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. Mục tiêu của hoạt động công nghệ là làm cho khoa học và kỹ thuật trở thành một động lực lớn thúc đẩy nhanh quá trình phát triển KT-XH. Theo UNESCO, ”hoạt động KH&CN có thể được định nghĩa như tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KH&CN trong thực tiễn sản xuất và đời sống”.
- 8 8 Đặng Duy Thịnh, Chính sách khoa học và công nghệ quốc gia, bài giảng chuyên đề, Hà Nội 1998. 8 z Chính trong hoạt động KH&CN mà các kiến thức KH&CN được sản xuất ra, được thu thập, truyền bá, được sửa đổi, thích nghi cho phù hợp với nhu cầu và cho việc sử dụng, là nhân tố quan trọng nhất của nền kinh tế tri thức. Hay nói một cách khác hoạt động KH&CN là một đối tượng quản lý của chủ thể và là cơ sở để hình thành hệ thống tổ chức KH&CN.