Chương 1. Quá trính hính thành và xây dựng căn cứ Tỉnh ủy Cà Mau trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975). Tổ chức và hoạt động của căn cứ Tỉnh ủy Cà Mau trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975). Đặc điểm, vai trò của căn cứ Tỉnh ủy Cà Mau trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975).
9 NỘI DUNG LUẬN VĂN CHƢƠNG 1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ XÂY DỰNG CĂN CỨ TỈNH ỦY CÀ MAU TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƢỚC (1954 – 1975) 1. Những nhân tố tác động 1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội 1.
Điều kiện tự nhiên – Địa lí Cà Mau là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phần đất cực Nam của Tổ quốc, phìa Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phìa Đông Bắc giáp tỉnh Bạc Liêu, phìa Đông giáp Biển Đông, phìa Tây giáp Vịnh Thái Lan. Cà Mau là một tỉnh lớn có diện tìch tự nhiên là 5211 km2, bờ biển dài 254 km, có điểm cực Bắc: 9°33′ vĩ độ Bắc (thuộc xã Biển Bạch huyện Thới Bính), điểm cực Nam: 834 vĩ độ Bắc (thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển), điểm cực Đông: 105°25′ kinh độ Đông (thuộc xã Tân Thuận huyện Đầm Dơi), điểm cực Tây; 10443 kinh độ Đông (thuộc xã Đất Mũi huyện Ngọc Hiển). Cà Mau có khì hậu cận xìch đạo, nắng nóng và mưa nhiều, độ ẩm cao, nhiệt độ ìt thay đổi. Nhiệt độ trung bính là 26°C, biển từ ba phìa nên khì hậu ôn hoà, ìt khi xảy ra bão lụt.
Cà Mau có hai mùa: mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Cà Mau được hính thành là kết quả của quá trính bồi tụ phù sa sông Cửu Long. Hai dòng hải lưu ở biển Đông và vịnh Thái Lan đón nhận phù sa của sông Cửu Long bồi đắp dần theo năm tháng, tạo nên một vùng đất màu mỡ. Đồng thời đây cũng là nơi quan trọng để tôm cá và các sinh vật biển sinh sản và phát triển, tạo ra ngư trường lì tưởng ở biển Cà Mau. Đồng bằng Cà Mau màu mỡ và bằng phẳng, độ dốc không lớn, độ cao từ 0,5 đến 3m so với mực nước biển.
Cà Mau không phải chỉ độc canh cây lúa mà các loại cây hoa màu, cây lương thực khác cũng rất phát triển. Rừng Cà Mau thuộc vào hệ rừng ngập nước, gồm có rừng đước (mọc ở bãi bồi nước mặn và nước lợ) ở các huyện Cái Nước, Phú Tân, Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Năm Căn là chủ yếu; rừng tràm (mọc ở nước ngọt và nước lợ) chủ yếu ở các huyện U Minh, Thới Bính, Trần Văn Thời. Rừng đước và rừng tràm nối tiếp nhau bao quanh lấy mũi Cà Mau từ Đông sang Tây. Ngoài ra còn những "lõm" rừng tràm mọc rải rác.
Rừng 10 sác của Cà Mau đứng thứ hai trên thế giới về tầm quan trọng và diện tìch, chỉ đứng sau rừng sác bên bờ sông Amazon. Năm 1930, diện tìch rừng của Cà Mau - Bạc Liêu (mà chủ yếu ở Cà Mau) chiếm khoảng 300. Qua chiến tranh tàn phá bởi chất độc hoá học, bom đạn của kẻ thù, nạn cháy rừng và sự tác động của con người, ngày nay còn lại gần 200.000 ha, trong đó có một số diện tìch là trồng mới. Cà Mau có kênh rạch, sông ngòi như mạng nhện, mật độ cao nhất trong cả nước.
Có những sông lớn, nước sâu dẫn một lượng lớn phù sa chảy ra vịnh Thái Lan như sông Cái Tàu, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp. Hệ thống kênh đào như kênh Cà Mau - Bạc Liêu, kênh Cà Mau - Phụng Hiệp. Do đó, mảnh đất này thuận lợi về giao thông đường thuỷ, nhưng lại là khó khăn về giao thông đường bộ, ví đất thấp, sông ngòi nhiều. Cà Mau được thiên nhiên ưu đãi về tôm, cá và thuỷ, hải sản, là tỉnh có diện tìch nuôi trồng thuỷ, hải sản lớn nhất cả nước.
Thiên nhiên ưu đãi, là nơi đất lành chim đậu, Cà Mau có nhiều sân chim, vườn chim. Ngay tại trung tâm thành phố Cà Mau cũng có vườn chim tại Lâm Viên 19/5. Khai thác, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên ở Cà Mau đang được Đảng bộ và chình quyền các cấp cũng như mỗi người dân Cà Mau rất quan tâm. Địa lý hành chình của Cà Mau nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử.
Trước thế kỷ XVII, đây là một vùng ẩm thấp, sính lầy, hoang vu. Vào những năm cuối thế kỷ XVII, hưởng ứng sự chiêu mộ của Mạc Cửu một di thần của nhà Minh bất phục triều đính Mãn Thanh, lưu trú tại Mang Khảm (Hà Tiên), một số lưu dân người Việt, người Hoa đã đến cư trú và làm ăn sinh sống, dựng thành một xã với tên gọi “xã” Cà Mau. Sang đầu thế kỷ XVIII, khi vùng đất này thuộc quyền quản lý của chúa Nguyễn, “xã” Cà Mau thuộc trấn Hà Tiên. Trong nửa đầu thế kỷ XVIII, lưu dân ở nhiều nơi khác về đây sinh sống ngày càng nhiều do đó đất đai khai phá cũng được mở rộng thêm.
Vào giữa thế kỷ XVIII, phần đất thuộc các huyện phìa trên của Cà Mau ngày nay đã được khẩn hoang và thuộc địa giới của dinh Long Hồ. Nửa sau thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX, dân tứ xứ đổ về đây, khai hoang mở đất, xây dựng quê hương mới ngày càng đông, do đó diện tìch khai phá cũng ngày càng mở rộng. Dưới thời của Gia Long, vua Minh Mạng, “xã” 11 Cà Mau được nâng lên thành huyện Long Xuyên, vẫn thuộc tỉnh Hà Tiên, còn vùng đất phìa trên Cà Mau thí thuộc phủ Ba Xuyên, tỉnh Vĩnh Long Sau khi chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) vào năm 1867, thực dân Pháp bắt đầu chia nhỏ các tỉnh cũ để dễ bề cai trị. Ngày 18/12/1882, tỉnh Bạc Liêu là tỉnh thứ 21 của Nam kỳ được thành lập gồm 4 quận và 1 thị xã.
Địa lý hành chình tỉnh nói trên tồn tại đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Năm 1947, sau khi tỉnh Bạc Liêu (nay Cà Mau – Bạc Liêu) bị thực dân Pháp tái chiếm, chình quyền thực dân sáp nhập huyện Phước Long của tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Bạc Liêu. Về phìa chình quyền cách mạng, năm 1947 và 1948 sáp nhập 2 quận An Biên và Phước Long của tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Bạc Liêu, đồng thời thành lập thêm 2 quận mới là Ngọc Hiển và Trần Văn Thời (tách từ quận Cà Mau ra theo quyết định của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ). Ngày 25/10/1955, chình quyền Sài Gòn tách huyện Cà Mau ra khỏi tỉnh Bạc Liêu thành lập tỉnh An Xuyên, các huyện còn lại sáp nhập vào tỉnh Sóc Trăng thành lập tỉnh Ba Xuyên.
Về phìa chình quyền cách mạng thí vẫn gọi khu vực Cà Mau là tỉnh Bạc Liêu sau lấy tên là tỉnh Cà Mau (mật danh là U1). Ngày 27/11/1973 tái lập tỉnh Bạc Liêu. Tỉnh Cà Mau cắt huyện Giá Rai giao tỉnh Bạc Liêu. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, để đảm bảo thống nhất lãnh đạo và sát với tính hính thực tế ở miền Nam, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, giải thể các Khu ủy.
Quán triệt Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương, ngày 20/09/1975, Thường vụ Trung ương Cục ra Nghị quyết số 16-NQ chỉ đạo việc giải thể cấp khu, sáp nhập tỉnh. Theo đó, toàn Nam bộ còn lại 8 tỉnh và 2 thành phố là thành phố Hồ Chì Minh và Đà Lạt, trong đó tỉnh Cà Mau – Bạc Liêu gồm cả một số xã của 2 huyện Vĩnh Thuận, An Biên (Rạch Giá) và 2 huyện Thạnh Trị, Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-TW ngày 20/12/1975 của Bộ Chình trị về điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam, tháng 2/1976, Chình phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam ra Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Hai tỉnh Cà Mau (An Xuyên) và Bạc Liêu hợp thành tỉnh Minh Hải.
Tỉnh Minh Hải có hai thị xã: thị xã Cà Mau và thị xã Minh Hải và có 7 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Châu Thành, Thới Bính, Trần Văn Thời, Ngọc Hiển. Minh Hải là tỉnh 12 rộng nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và đứng thứ hai ở Nam bộ. Ngày 11/7/1977, Hội đồng Chình phủ nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra Quyết định số 181/CP giải thể huyện Châu Thành. Các xã của huyện này được nhập vào các huyện Giá Rai, Trần Văn Thời và Thới Bính.
Ngày 29/12/1978, Hội đồng Chình phủ ra Quyết định số 326/CP lập thêm 6 huyện mới: Phước Long, Cà Mau, U Minh, Phú Tân, Cái Nước, Năm Căn, số huyện trong tỉnh tăng lên 12 huyện. Ngày 30/8/1983, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 94/HĐBT giải thể huyện Cà Mau, các xã của huyện này được sáp nhập vào thị xã Cà Mau và các huyện Giá Rai, Thới Bính, Cái Nước. Tỉnh còn lại 2 thị xã và 11 huyện. Ngày 17/5/1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Nghị định số 75/HĐBT đổi tên thị xã Minh Hải thành thị xã Bạc Liêu; hợp nhất huyện Hồng Dân và huyện Phước Long lấy tên là huyện Hồng Dân; hợp nhất huyện Cái Nước và huyện Phú Tân thành huyện Cái Nước.
Ngày 17-18/12/1984, hai quyết định của Hội đồng Bộ trưởng đã đổi tên huyện Năm Căn (cũ) thành huyện Ngọc Hiển (mới), đổi tên huyện Ngọc Hiển (cũ) thành huyện Đầm Dơi (mới); chuyển tỉnh lị tỉnh Minh Hải từ thị xã Bạc Liêu về thị xã Cà Mau. Như vậy, tỉnh Minh Hải có hai thị xã (thị xã Cà Mau, thị xã Bạc Liêu) và 9 huyện: Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Thới Bính, U Minh, Cái Nước, Trần Văn Thời, Đầm Dơi, Ngọc Hiển. Ngày 6/11/1996, trong kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã phê chuẩn việc tách tỉnh Minh Hải ra làm hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu, thực hiện từ ngày 1/1/1997. Khi mới tái lập, tỉnh Cà Mau có 7 đơn vị huyện, thị gồm: Thị xã Cà Mau, huyện Thới Bính, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Ngọc Hiển, Đầm Dơi.
Đến ngày 14/4/1999, thị xã Cà Mau được nâng lên thành phố trực thuộc tỉnh. Đầu năm 2004, huyện Ngọc Hiển được tách thành 2 huyện Năm Căn và Ngọc Hiển; huyện Cái Nước được tách ra thành hai huyện Cái Nước và Phú Tân. Hiện nay về hành chình, tỉnh có một thành phố (Cà Mau) và 8 huyện: Thới Bính, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Đầm Dơi, Năm Căn, Phú Tân, Ngọc Hiển: gồm 97 xã, phường, thị trấn (tình đến thời điểm đầu năm 2005).