Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CĂN CỨ TỈNH ỦY CẦN THƠ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 – 1975) 1. Cơ sở hình thành căn cứ địa cách mạng Cần Thơ 1. Cơ sở lý luận Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích căn cứ địa cách mạng là “Vùng được chọn làm bàn đạp xây dựng và phát triển phong trào cách mạng ra các vùng khác.
Căn cứ địa cách mạng phải có khả năng tạo được cơ sở chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội và địa lý thuận lợi cho đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng. Xây dựng căn cứ địa cách mạng phải bắt nguồn từ xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang, xây dựng chính quyền cách mạng để trên cơ sở đó từng bước xây dựng kinh tế, xã hội đáp ứng yêu cầu cách mạng” [36, tr.371] Khi bàn về chiến tranh, quân đội, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, Lê - nin đã viết: “muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc, một quân đội giỏi nhất những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng, cũng đều sẽ lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” [45, tr. Ngoài ra Người còn chỉ rõ rằng nhân dân chính là nguồn gốc, sức mạnh và là động lực để tiến hành chiến tranh một cách thắng lợi vì: “trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi” [45, tr. Trong lịch sử, mỗi khi dân tộc ta đứng lên chiến đấu để giành lại hoặc bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, ông cha ta đều biết lập chỗ đứng chân, dựng đất căn bản.
Những người lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cứu nước xưa đã chú trọng dựa vào điều kiện nhân hòa và địa lợi, khi tìm nơi rừng núi, khi chọn vùng đầm lầy, khi dựa vào miền đồng bằng để khai thác sức người, sức của trong nhân dân, xây dựng và phát triển lực lượng. Trong tư tưởng quân sự của 9 Hồ Chí Minh, vấn đề hậu phương và căn cứ địa là một nội dung vô cùng quan trọng: “là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh” [3, tr. Thông qua thực tiễn hoạt động cách mạng, tư tưởng quân sự của Hồ Chí minh về căn cứ địa, hậu phương tập trung ở bốn nội dung cơ bản sau: một là, căn cứ địa hậu phương vững chắc nhất là lòng dân. Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng căn cứ địa, hậu phương nhất thiết phải dựa vào dân, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân về mọi mặt thì mới có thể giành thắng lợi; hai là, phải xây dựng căn cứ địa hậu phương vững mạnh toàn diện.
Người thường xuyên nhắc nhở rằng: “bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương không nên chỉ biết đánh. Biết đánh là cái tốt nhưng chỉ biết đánh mà coi nhẹ chính trị, kinh tế, tuyên truyền, giáo dục nhân dân tức là chỉ biết có một mặt, vì đánh không thể tách rời được với chính trị và kinh tế” [3, tr. 384]; ba là, phải xây dựng căn cứ, hậu phương trên khắp miền đất nước. Có xây dựng hậu phương và căn cứ rộng khắp ta mới đẩy mạnh được phong trào đấu tranh cách mạng ngay giữa hậu phương của địch nhằm tạo nên thế trận ba vùng chiến lược của chiến tranh nhân dân; bốn là, xây dựng phải gắn liền với bảo vệ căn cứ địa, hậu phương vì căn cứ địa, hậu phương của ta là mối đe dọa thường xuyên đối với địch nên chúng luôn tìm cách phá hoại căn cứ, hậu phương của ta.
Do đó xây dựng phải đi đôi với bảo vệ căn cứ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài giảng tại Học viện Quân sự cuối năm 1970 về vấn đề xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa hậu phương của chiến tranh nhân dân đã nêu bật lên quy luật hình thành căn cứ địa cách mạng ở nước ta. Đầu tiên là: xây dựng các cơ sở chính trị, rồi tiến lên xây dựng các khu du kích, căn cứ du kích và sau cùng là xây dựng căn cứ địa cách mạng. Từ khi Đảng ra đời, đã chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, phát động toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc do đó cần có căn cứ địa hậu phương chung của cả nước, đồng thời cần có căn cứ địa hậu phương tại chỗ khắp nơi, ở từng chiến trường từng địa phương.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ ra rằng: “có xây dựng được căn cứ địa hậu phương tại chỗ ở khắp nơi, chúng ta mới xây dựng 10 được lực lượng tại chỗ vững mạnh, mới phát huy hết tiềm lực của từng địa phương, từng chiến trường thực hiện đánh địch một cách rộng khắp, một tấc không đi một ly không rời, mới tạo thành thế cài răng lược, xen kẽ triệt để giữa ta và địch, do đó mà có thể bao vây uy hiếp tiến công địch một cách thường xuyên. Nước ta đất không rộng địa thế lại dài và hẹp, giao thông vận tải khó khăn, dễ bị tình hình thời tiết và hoạt động đánh phá của không quân địch làm gián đoạn, cho nên việc chi viện của hậu phương chiến lược đối với các chiến trường, nhất là các chiến trường xa gặp nhiều khó khăn trở ngại. Trong điều kiện đó, chúng ta cần phải xây dựng căn cứ địa, hậu phương tại chỗ vững mạnh. Cũng chỉ có như vậy chúng ta mới tiết kiệm được sức người, sức của sử dụng trên tuyến chi viện chiến lược, bảo đảm cho hậu phương chiến lược tập trung lực lượng giải quyết những nhu cầu thiết yếu mà hậu phương tại chỗ không đảm đương được” [9, tr.
Như vậy, căn cứ địa cách mạng ở nước ta trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được hình thành trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cơ sở thực tiễn Việt Nam là quốc gia có vị trí quan trọng ở Đông Nam Á, nên từ khi dựng nước đến nay, dân tộc ta hầu như luôn luôn phải đứng lên chiến đấu chống ngoại xâm, kể từ đầu công nguyên đến thế kỷ XVIII, chỉ tính những cuộc chiến tranh có quy mô lớn cả nước, dân tộc ta đã trải qua hơn 20 cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Các cuộc chiến đấu chống ngoại xâm đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, trong đó có bài học thực tiễn về xây dựng căn cứ địa. Ngay từ buổi đầu dựng nước, trong cuộc kháng chiến chống lại nhà Tần sang xâm lược, cư dân Âu Lạc đã biết dựa vào thế núi rừng hiểm trở để ẩn náu đêm đêm lẻn ra quấy rối tiêu hao, tiêu diệt đối phương, khiến cho quân Tần mệt mỏi, tướng Đồ Thư bị giết âm mưu xâm lược bị thất bại [54, tr.
Suốt thời kỳ Bắc thuộc, các cuộc khởi nghĩa giành độc lập thường 11 xuyên diễn ra, hầu hết các cuộc khởi nghĩa đều biết tận dụng địa thế, làm căn cứ kháng chiến: Hai Bà Trưng lấy Cấm Khê làm căn cứ chống lại quân của Mã Viện gây cho địch nhiều khó khăn tổn thất; thành công của Triệu Việt Vương gắn liền với căn cứ đầm Dạ Trạch; căn cứ Sa Nam của cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan; căn cứ Đường Lâm của Phùng Hưng…. thực tiễn đấu tranh đó đã được nhân dân ta đúc kết thành kinh nghiệm: “giữ đất hiểm, dùng kỳ binh để đánh giặc lớn”. Kinh nghiệm trên được thực tế kiểm chứng trong thời cận, hiện đại với hàng loạt các căn cứ Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế… trong phong trào Cần Vương chống Pháp. Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng ta kế thừa và phát huy những truyền thống đánh giặc đã được tổ tiên ta đúc kết “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” xây dựng căn cứ địa đặt trong mối quan hệ với quốc tế và sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Nhờ đó, Đảng ta xây dựng thành công căn cứ địa Việt Bắc làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng Tám năm 1945. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, căn cứ địa Việt Bắc tiếp tục làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược. Khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, ta vẫn giữ được các vùng tự do rộng lớn ở Việt Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Ở Nam Bộ, trong điều kiện chiến trường bị chia cắt, ta cũng xây dựng được những chiến khu nổi tiếng như chiến khu D, chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu U Minh…Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hành động khủng bố, trả thù của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng nặng.
Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều nơi đảng viên phải rút vào hoạt động bí mật, chuyển vùng… Ở một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng đã chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các “trại bí mật”. Ở chiến khu D, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”, vùng Đồng Tháp 12 Mười ra đời các “túi dân tản cư”.
Sâu trong miệt rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các “làng rừng”. Vùng đồng bào S.Tiêng có “làng Độc Lập”… đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ. Ở địa bàn Cần Thơ, Tỉnh ủy Cần Thơ trong kháng chiến chống Mỹ đã đóng cơ quan Tỉnh ủy ở nhiều nơi: Kinh Ngang xã Hiệp Hưng, Thạnh Hòa huyện Phụng Hiệp, Xà Phiên, Vĩnh Viễn huyện Long Mỹ… nhưng có hai căn cứ Tỉnh ủy đứng chân chỉ đạo phong trào tạo ra bước ngoặt lịch sử trong tỉnh. Đó là căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ ở ấp Thạnh Thắng, xã Hỏa Lựu, huyện Long Mỹ, thị xã Vị Thanh từ năm 1965 đến 1968 và căn cứ Tỉnh ủy ở ấp Phương Quới, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp đã đứng chân chỉ đạo đánh bình định năm 1973 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (ngày nay các địa bàn này đều thuộc tỉnh Hậu Giang).
Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dạng về hình thức.