Tổng quan nghiên cứu

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm từ năm 1954 đến năm 1975 là một giai đoạn thử thách khốc liệt trong lịch sử dân tộc. Tại tỉnh Cần Thơ với diện tích tự nhiên 1.409,0 km² và mạng lưới sông rạch chằng chịt đạt mật độ từ 1,45 đến 2,0 km/km², chính quyền Sài Gòn đã thiết lập trung tâm đầu não của Vùng IV chiến thuật nhằm kiểm soát toàn bộ miền Tây Nam Bộ. Đứng trước sức ép quân sự khổng lồ từ các phương tiện chiến tranh hiện đại của đối phương, việc xây dựng và duy trì căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ trở thành vấn đề sống còn nhằm đảm bảo sự lãnh đạo liên tục của Đảng bộ địa phương.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và phương thức hoạt động của căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ qua hai giai đoạn 1954 - 1964 và 1965 - 1975. Về phạm vi không gian, đề tài khảo sát các vùng căn cứ đứng chân của Tỉnh ủy trên địa bàn các huyện Châu Thành, Ô Môn, Phụng Hiệp, Long Mỹ và thị xã Vị Thanh (nay thuộc địa bàn thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang).

Về mặt ý nghĩa thực tiễn, công trình làm rõ vai trò của căn cứ địa trong việc giữ vững niềm tin cho hơn 5.000 đảng viên bám trụ sau Hiệp định Giơnevơ, lãnh đạo phân chia 77.500 ha ruộng đất cho nông dân và tổ chức các đòn tiến công quyết định giải phóng hoàn toàn địa bàn vào ngày 30 tháng 04 năm 1975. Luận văn bổ sung nguồn sử liệu xác thực, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về căn cứ địa kháng chiến tại vùng đồng bằng sông nước Tây Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của hậu phương chiến tranh, khẳng định hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi bởi đây là nơi tích lũy tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự. Đồng thời, công trình quán triệt sâu sắc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa cách mạng, nhấn mạnh nguyên lý căn cứ vững chắc nhất là lòng dân và yêu cầu xây dựng hậu phương toàn diện.

Nghiên cứu cũng tích hợp quan điểm chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về việc kết hợp hậu phương chiến lược của cả nước với hậu phương tại chỗ nhằm tạo lập thế trận cài răng lược, thực hiện phương châm bám đất đánh địch một tấc không đi một ly không rời. Khung khái niệm chính của đề tài xoay quanh ba trụ cột cốt lõi: căn cứ địa cách mạng, hậu phương tại chỗ và thế trận ba mũi giáp công trong chiến tranh nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu

Về nguồn dữ liệu, tác giả đã thu thập và đối chiếu hơn 65 tài liệu lưu trữ chuyên khảo từ Ban Tuyên giáo Thành ủy Cần Thơ, Bảo tàng Lịch sử tỉnh Hậu Giang, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, cùng các văn kiện Đảng bộ địa phương. Cỡ mẫu phỏng vấn thực địa bao gồm 12 nhân chứng lịch sử là các đồng chí nguyên cán bộ, chiến sĩ và giao liên từng trực tiếp công tác, bảo vệ căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ qua các thời kỳ. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu được áp dụng để đảm bảo tính chuẩn xác và chiều sâu của nguồn hồi ức nhân chứng.

Về phương pháp phân tích, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình sự kiện theo trình tự thời gian khách quan và làm nổi bật bản chất của các chủ trương lãnh đạo. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ đặc thù khoa học lịch sử cần sự chân thực tuyệt đối về dữ liệu, kết hợp phân tích liên ngành địa lý quân sự và kinh tế xã hội để giải mã sự thích ứng của căn cứ địa trong địa hình châu thổ. Toàn bộ quá trình điền dã, xử lý tư liệu và hoàn thiện luận văn được tiến hành trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ bước chuyển biến chiến lược từ sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954 và giai đoạn khó khăn khốc liệt dưới chính sách tố cộng diệt cộng cùng Luật 10/59. Từ lực lượng ban đầu khoảng 5.000 đảng viên ở lại bám trụ, đến cuối năm 1959 số lượng đảng viên toàn tỉnh giảm mạnh chỉ còn hơn 500 người do bị khủng bố, bắt bớ và tù đày, tương đương mức tổn thất gần 90%. Tuy nhiên, hệ thống cơ sở bí mật trong lòng dân tại các xã Mỹ Khánh, Trường Long, Nhơn Nghĩa vẫn được giữ vững.

Thứ hai, phong trào Đồng Khởi năm 1960 đã tạo nên bước ngoặt khôi phục thực lực cách mạng. Quân và dân Cần Thơ đã tiêu diệt, bức hàng và bức rút trên 50 đồn bót, làm rã ngũ trên 900 lính địch, giải phóng 30 xã và 300 ấp. Ngay sau thắng lợi này, toàn tỉnh đã củng cố và phát triển 117 chi bộ với hơn 10.000 hội viên thuộc các đoàn thể thanh niên, phụ nữ và nông dân.

Thứ ba, công tác xây dựng tiềm lực kinh tế tại chỗ đạt kết quả vượt bậc thông qua chính sách ruộng đất. Tỉnh ủy Cần Thơ đã vận động đấu tranh bảo vệ quyền lợi đất canh tác và tiến hành cấp 77.500 ha ruộng đất cho nông dân trong vùng giải phóng, riêng huyện Phụng Hiệp cấp 700 mẫu. Tiềm lực nông nghiệp này đảm bảo nguồn lương thực tự cấp tự túc vững chắc mà không phụ thuộc hoàn toàn vào tuyến chi viện xa xôi từ hậu phương miền Bắc.

Thứ tư, nghiên cứu xác định hai địa bàn căn cứ mang ý nghĩa bước ngoặt lịch sử: căn cứ ấp Thạnh Thắng (xã Hỏa Lựu, huyện Long Mỹ) giai đoạn 1965 - 1968 đóng vai trò bộ chỉ huy cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; căn cứ ấp Phương Quới (xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp) từ năm 1972 đến 1975 là nơi tổ chức hội nghị chỉ đạo đánh bại kế hoạch bình định năm 1973 và lãnh đạo cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975 toàn thắng.

Thảo luận kết quả

Thành công của căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ xuất phát từ nghệ thuật vận dụng linh hoạt địa hình sông nước kết hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, bao gồm đồng bào Kinh, Hoa, Khmer cùng các tôn giáo lớn với 557.237 tín đồ (chiếm 28,9% dân số toàn tỉnh lúc bấy giờ). So với các chiến khu rừng núi như Việt Bắc hay chiến khu Đ ở miền Đông Nam Bộ, căn cứ Cần Thơ mang đặc thù của một căn cứ địa đồng bằng trống trải, nằm sát nách các căn cứ hỏa lực của đối phương nhưng vẫn đứng vững nhờ mạng lưới liên lạc tinh gọn và sự đùm bọc của nhân dân.

Những diễn biến và số liệu trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện sự biến động số lượng đảng viên và số đồn bót địch bị triệt phá qua từng giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975. Bên cạnh đó, một bảng thống kê chi tiết về 3.165 cuộc đấu tranh chính trị với 180.658 lượt người tham gia trong năm 1964 sẽ minh họa rõ nét sức mạnh của phong trào quần chúng hỗ trợ trực tiếp cho công tác bảo vệ căn cứ địa.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai dự án bảo tồn, tôn tạo và số hóa 100% hồ sơ, hiện vật tại các di tích lịch sử căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ ở ấp Thạnh Thắng và ấp Phương Quới. Cơ quan chủ trì thực hiện là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hậu Giang phối hợp với thành phố Cần Thơ, đặt mục tiêu hoàn thành mô hình tham quan thực tế ảo 3D và nâng mức tăng trưởng du khách về nguồn thêm 25% mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ hai, đưa nội dung lịch sử căn cứ kháng chiến địa phương vào giảng dạy chính khóa tại các trường trung học phổ thông và đại học trên địa bàn Tây Nam Bộ. Chủ thể thực hiện là Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học sư phạm, đặt chỉ tiêu 100% học sinh, sinh viên chuyên ngành khoa học xã hội được tiếp cận 15 tiết học chuyên đề lịch sử địa phương từ năm học 2026 - 2027.

Thứ ba, xây dựng các tour du lịch sinh thái kết hợp giáo dục truyền thống cách mạng dọc theo tuyến kênh xáng Xà No và sông Cái Lớn. Chủ thể thực hiện là Hiệp hội Du lịch Đồng bằng sông Cửu Long cùng các doanh nghiệp lữ hành, mục tiêu hình thành 3 tuyến du lịch chuyên đề gắn liền các di tích lịch sử cách mạng trước quý IV năm 2027.

Thứ tư, đẩy mạnh các đề tài nghiên cứu liên ngành chuyên sâu về nghệ thuật quân sự và kinh tế hậu cần tại chỗ vùng sông nước Nam Bộ. Chủ thể thực hiện là Viện Lịch sử Quân sự phối hợp với các viện nghiên cứu khoa học xã hội, xuất bản 2 chuyên khảo tổng kết kinh nghiệm thực tiễn trước năm 2028 nhằm phục vụ công tác quốc phòng an ninh thời kỳ mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là giảng viên, giáo viên và học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, phương pháp tiếp cận tư liệu thực chứng và giáo án mẫu phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phương.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý văn hóa, ban quản lý di tích lịch sử và bảo tàng tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang. Luận văn là cơ sở khoa học tin cậy để hoàn thiện hồ sơ di tích, xây dựng đề án bảo tồn và trưng bày hiện vật kháng chiến.

Nhóm thứ ba là các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự, chiến lược quốc phòng. Tài liệu mang đến góc nhìn sâu sắc về phương thức xây dựng căn cứ địa tại vùng đồng bằng sông nước, phục vụ công tác nghiên cứu nghệ thuật chiến tranh nhân dân.

Nhóm thứ tư là các cơ quan thông tin truyền thông, Ban Tuyên giáo các cấp và các đơn vị lữ hành. Dữ liệu từ luận văn hỗ trợ đắc lực cho công tác biên soạn tài liệu tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước và phát triển các sản phẩm du lịch về nguồn giàu giá trị nhân văn.

Câu hỏi thường gặp

Căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ đã đóng chân ở những địa điểm tiêu biểu nào trong kháng chiến chống Mỹ? Tỉnh ủy Cần Thơ từng di chuyển qua nhiều địa bàn như xã Mỹ Khánh, Trường Long, Nhơn Nghĩa, Long Thạnh. Trong đó, nổi bật nhất là căn cứ ấp Thạnh Thắng tại xã Hỏa Lựu (1965 - 1968) và căn cứ ấp Phương Quới tại xã Phương Bình (1972 - 1975).

Yếu tố nào giúp căn cứ địa Cần Thơ đứng vững ở địa hình đồng bằng nhiều kênh rạch? Căn cứ đứng vững nhờ vào sự kết hợp giữa địa thế hiểm trở của vùng sình lầy cây cối rậm rạp và thế trận lòng dân vững chắc. Nhân dân địa phương thuộc các tôn giáo và dân tộc Kinh, Hoa, Khmer đã trực tiếp nuôi giấu, bảo vệ cán bộ.

Thiệt hại lớn nhất của Đảng bộ Cần Thơ trong giai đoạn 1954 - 1959 là gì? Dưới chính sách tố cộng diệt cộng và Luật 10/59, phong trào bị đàn áp khốc liệt khiến số lượng đảng viên giảm mạnh từ khoảng 5.000 người sau hiệp định xuống còn hơn 500 người vào cuối năm 1959, nhiều chi bộ chỉ còn 2 đến 3 người.

Chính sách ruộng đất tại vùng căn cứ Cần Thơ mang lại kết quả kinh tế như thế nào? Tỉnh ủy đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giữ đất và tiến hành cấp 77.500 ha ruộng đất cho nông dân vùng giải phóng, giúp tự đảm bảo nguồn lương thực tại chỗ phục vụ bộ đội và phong trào cách mạng kéo dài suốt 21 năm.

Giá trị đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn thạc sĩ này là gì? Luận văn đã phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, đúc kết những bài học lịch sử sâu sắc về xây dựng hậu phương tại chỗ ở vùng đồng bằng châu thổ.

Kết luận

  • Tái hiện chân thực tiến trình lịch sử 21 năm từ năm 1954 đến năm 1975 của căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ qua các giai đoạn thăng trầm của cách mạng.
  • Chứng minh tính đúng đắn của chủ trương xây dựng hậu phương tại chỗ, tự túc lương thực thông qua phân chia 77.500 ha ruộng đất cho nhân dân.
  • Khẳng định nghệ thuật xây dựng căn cứ dựa vào thế trận lòng dân kiên định giữa vùng đồng bằng sông nước bị đối phương phong tỏa gắt gao.
  • Làm rõ vai trò trung tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy trong các chiến dịch bản lề như Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 và giải phóng miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975.
  • Đúc kết hệ thống bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ công tác giáo dục truyền thống yêu nước và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hôm nay.

Công trình là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị cao cho công tác nghiên cứu lịch sử và giảng dạy địa phương. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác toàn văn luận văn để tiếp cận nguồn tư liệu thực chứng phong phú và các bài học lịch sử quân sự sâu sắc.