mở đầu bằng việc lập căn cứ ở ấp Tây Sơn (Bình Định). Từ đây nghĩa quân lần lượt lật đổ các thế lực phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài tiến tới thống nhất lãnh thổ, giải phóng dân tộc và bảo vệ nền độc lập dân tộc khi đánh đuổi quân Xiêm và quân Mãn Thanh. Trong phong trào kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX, các nhà yêu nước cũng nhận thức được tầm quan trọng của căn cứ địa. Nguyên soái Trương Định xây dựng căn cứ ở Gò Công, Tân An (Gia Định); Nguyễn Trung Trực xây dựng căn cứ kháng chiến ở Hòn Chông (Rạch Giá), Phú Quốc (Kiên Giang); Đinh Công Tráng xây dựng căn cứ Ba Đình (Thanh Hóa); Nguyễn Thiện Thuật xây dựng căn cứ ở vùng Bãi Sậy (Hưng Yên); Phan Đình Phùng trong khởi nghĩa Hương Khê đã xây dựng căn cứ ở Vụ Quang (Hà Tĩnh); Khởi nghĩa nông dân của Hoàng Hoa Thám dựa vào vùng núi rừng hiểm trở Yên Thế (Bắc Giang) để chống Pháp trong thời gian dài.
Trong điều kiện lịch sử mới, Đảng ta kế thừa và phát huy những truyền thống đánh giặc đã được tổ tiên ta đúc kết "thiên thời, địa lợi, nhân hòa" xây dựng căn cứ địa đặt trong mối quan hệ với quốc tế và sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Nhờ đó Đảng ta xây dựng thành công căn cứ địa Việt Bắc làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền vào tháng Tám năm 1945. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954 căn cứ địa Việt Bắc tiếp tục làm chỗ dựa cho cuộc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược. Khi chiến tranh lan rộng ra cả nước, ta vẫn giữ được các vùng tự do rộng lớn ở Việt Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ.
Sau đó nối 12 liền Việt Bắc và Bắc Trung Bộ với nhau qua vùng tự do Liên khu V. Ở Nam bộ, trong điều kiện chiến trường bị chia cắt, ta cũng xây dựng được những chiến khu nổi tiếng như chiến khu D, chiến khu Dương Minh Châu, chiến khu U Minh… Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hành động khủng bố, trả thù của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng nặng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều nơi đảng viên phải rút vào hoạt động bí mật, chuyển vùng… Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất tự túc và tự vệ.
Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các “trại bí mật”. Ở chiến khu D, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”. Vùng Đồng Tháp Mười ra đời các “túi dân tản cư”. Sâu trong miệt rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các “làng rừng”.
Vùng đồng bào S.Tiêng có các “làng Độc Lập”… Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ. Khi qui mô và cường độ cuộc chiến tranh tăng lên thì căn cứ địa cũng phát triển rộng khắp. Tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình… mà căn cứ địa được xây dựng dưới nhiều hình thức. Bên cạnh căn cứ vùng rừng núi, ở miền Trung và Tây Nam Bộ nước ta còn có các căn cứ từ thời kháng chiến chống Pháp như căn cứ Đồng Tháp Mười, là vùng đồng nước mênh mông vào mùa mưa hoặc dạng rừng tràm, đước ngập nước như căn cứ U Minh.
Căn cứ rừng Sác cũng là một căn cứ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Là một vùng rừng ngập mặn, nằm ở phía Đông Nam thành phố Sài Gòn. Tại đây, hàng trăm sông rạch lớn nhỏ dọc ngang chằng chịt như mạng nhện, chia cắt rừng Sác thành hàng nghìn đảo triều lớn nhỏ, thoắt chìm thoắt nổi theo nước thủy triều. Phủ lên rừng Sác đủ các loại cây rừng ngập mặn, đan níu nhau tầng tầng lớp lớp.
Sông rạch, đảo triều, rừng cây làm cho Rừng Sác trở thành một khu vực cực kỳ hiểm trở, lại nằm sát cạnh thành phố Sài Gòn và ôm gọn đường giao thông thủy chiến lược nối Sài Gòn ra quốc tế. Ở địa bàn tỉnh Sóc Trăng, sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp giành được thắng lợi, bước vào cuộc chiến mới với đế quốc Mỹ và tay say, căn cứ Tỉnh ủy Sóc Trăng được dời từ căn cứ Bố Thảo về đặt tại xã Gia Hòa và một số xã tiếp giáp như Thạnh Quới, Quới Thiện – huyện Mỹ Xuyên – tỉnh Sóc Trăng… đây là khu vực tương đối thuận lợi di chuyển vì gần cửa sông Bassac, thuận lợi cho lối đánh du kích, di chuyển quân và phát động chiến 13 tranh trên quy mô toàn tỉnh. Nhưng để chuẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy công kích và khởi nghĩa vào các căn cứ của địch, nhất là đánh vào thị xã Sóc Trăng cùng với cả nước tiến công Xuân Mậu Thân 1968 thì Thường vụ tỉnh ủy Sóc Trăng đã quyết định di chuyển từ căn cứ Gia Hòa về căn cứ Tỉnh ủy cũ ở rừng tràm Mỹ Phước – huyện Châu Thành (nay là huyện Mỹ Tú) (Căn cứ Tỉnh ủy Bố Thảo trong kháng chiến chống Pháp là một tên gọi cũ của khu rừng tràm Mỹ Phước) để chỉ đạo cuộc tổng tiến công tết Mậu Thân và lãnh đạo nhân dân toàn tỉnh kháng chiến. Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dang về hình thức.
Tùy điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình mà từng nơi, Đảng bộ các cấp đã lãnh đạo nhân dân xây dựng căn cứ địa với dạng thức phù hợp, tạo nên sự phong phú, đa dạng về các loại hình căn cứ địa ở nước ta 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống đấu tranh của nhân dân tỉnh Sóc Trăng 1. Điều kiện tự nhiên – Địa lý Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vùng hạ lưu sông Hậu, trên trục lộ giao thông thuỷ bộ nối liền thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh miền Tây Nam bộ. Về thời tiết Sóc Trăng ở vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm theo mùa khô và mùa mưa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ít khi bị bão lụt.
Lượng mưa trung bình trong năm là 1.846 mm, tập trung nhất từ tháng 8, 9, 10, thuận lợi cho cây lúa và các loại hoa màu phát triển. Về vị trí địa lý thì tỉnh Sóc Trăng, phía Đông Bắc giáp tỉnh Trà Vinh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Cần Thơ, phía Đông Nam giáp biển Đông và phía Tây Nam giáp tỉnh Bạc Liêu. Diện tích tự nhiên là 3.200,27 km2; dân số 1.462 người, trong đó người Kinh 752.443, người Khơ - me 349.935; người Hoa 72.644, còn lại 440 người là các dân tộc khác. Địa lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử.
Vào năm Mậu Dần 1698, chúa Nguyễn sai Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đàng trong (Nam bộ) và tiến hành xác lập địa giới hành chính vùng đất này, lập thành phủ Gia Định. Lấy lất Đồng Nai (Nông Nại) làm huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên, lưu mộ dân từ Quảng Bình trở vào đến ở, chia đặt thôn, ấp. Năm 1732 chúa Nguyễn lập dinh Long Hồ tại Cái Bè lúc đó là Cái Bè Dinh, năm 1780 được đặt tại vùng chợ Vĩnh Long và 14 đổi tên là Vĩnh Trấn Dinh, sau đó đổi thành trấn Vĩnh Thanh. Lúc này Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc nằm trong trấn Vĩnh Thanh, phủ Gia Định.
Năm 1832, vua Minh Mạng chia Nam kỳ thành 6 tỉnh, 3 tỉnh Miền Đông là: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường; 3 tỉnh Miền Tây gồm: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Vùng đất Sóc Trăng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên, gồm 3 huyện: Phong Nhiêu, Phong Thạnh và Vĩnh Định. Đây là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này.
Năm 1867, thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây trong đó có Sóc Trăng, sau đó Pháp chia Nam kỳ lục tỉnh thành nhiều hạt. Đến năm 1876 thực dân Pháp chia toàn Nam kỳ thành 4 khu vực hành chính gồm: Sài Gòn, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Bát Sắc (Bassac), mỗi khu vực hành chánh lớn lại chia nhỏ thành nhiều tiểu khu, tiểu khu Sóc Trăng thuộc khu vực Bát Sắc. Năm 1882, Pháp tách 2 tổng của tiểu khu Sóc Trăng và 3 tổng của tiểu khu Rạch Giá thành lập thêm tiểu khu Bạc Liêu. Tiếp theo một vài thay đổi (tách, nhập, xóa bỏ), nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 27-12-1892 qui định Nam kỳ có 2 thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn và 20 khu xếp theo thứ tự A, B, C như sau: Bạc Liêu, Bà Rịa, Bến Tre, Biên Hoà, Cần Thơ, Châu Đốc, Chợ Lớn, Gia Định, Gò Công, Hà Tiên, Long Xuyên,.
Mỹ Tho, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng, Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Trà Vinh, Vĩnh Long. Đến tháng 5-1895 lập thêm thành phố Cap Saint Jacques (Vũng Tàu). Nghị định ngày 20-12-1899 của toàn quyền Đông Dương qui định: kể từ ngày 1-1-1900 tất cả các đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Đông Dương trong đó có các khu ở Nam kỳ đều thống nhất gọi là tỉnh (Provine). Đứng đầu mỗi tỉnh ở Nam kỳ là một chủ tỉnh, cũng gọi là Chánh tham biện (Administrateur de la).
Cho đến cuối thời kỳ Pháp thuộc 20 tỉnh vẫn giữ nguyên tên cũ. Tỉnh Sóc Trăng thuộc miền Tây Nam kỳ, gồm 3 quận: Châu Thành, Kế Sách, Bang Long (nay là Long Phú). Năm 1926 thực dân Pháp chia tỉnh Sóc Trăng thành 4 quận: Châu Thành, Kế Sách, Long Phú và Phú Lộc. Năm 1932 Thống đốc Nam kỳ quyết định giải tán một số quận trong các tỉnh Nam kỳ, trong đó có quận Phú Lộc, nhưng đến năm 1941, Thống đốc Nam kỳ quyết định thành lập lại quận Phú Lộc.
Về phía ta, sau cách mạng tháng 8-1945, quận Phú Lộc được gọi là quận Thạnh Trị. Trong kháng chiến chống Pháp, tỉnh Sóc Trăng có thêm quận Vĩnh Châu của tỉnh Bạc Liêu 15 giao qua. Sau đó ta nhập huyện Vĩnh Châu vào huyện Thạnh Trị lấy tên là Thạnh Trị. Thời kỳ chống Pháp, Sóc Trăng có một số xã của tỉnh Rạch Giá và tỉnh Cần Thơ giao qua.
Năm 1955, thực hiện sự chỉ đạo của Liên Tỉnh ủy, tỉnh Sóc Trăng giao huyện Vĩnh Châu cho tỉnh Bạc Liêu. Cuối năm 1957 tỉnh Sóc Trăng nhận thêm thị xã Bạc Liêu và các huyện: Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai của tỉnh Bạc Liêu và huyện Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá.