Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số 9 22 90 13) của nghiên cứu sinh Đặng Thị An có tiêu đề: "Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975". Công trình được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội phối hợp với Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Bộ Quốc phòng), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Đình Lập và PGS. TS. Hồ Xuân Quang, bảo vệ năm 2022.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng phong trào thi đua yêu nước bắt nguồn từ truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, được định hình và phát triển mạnh mẽ kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc ngày 11/6/1948. Trong giai đoạn 1961-1975, phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc giữ vai trò quan trọng trong việc hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện cho tiền tuyến miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ. Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến phong trào thi đua yêu nước ở các góc độ, địa phương, ngành nghề riêng lẻ hoặc phục vụ tuyên truyền trong chiến tranh, nhưng đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong toàn bộ chặng đường 1961-1975 dưới góc nhìn sử học.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tái hiện có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp của phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc giai đoạn 1961-1975; trên cơ sở đó đúc kết các đặc điểm, ý nghĩa và rút ra một số bài học kinh nghiệm nhằm vận dụng vào công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, đánh giá các kết quả nghiên cứu liên quan, xác định hướng tiếp cận và nội dung luận án cần giải quyết.
  2. Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và các nhân tố tác động đến quá trình phát động, tổ chức phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc giai đoạn 1961-1975.
  3. Tái hiện thực tiễn phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc những năm 1961-1975 thông qua phân tích quá trình hình thành, các giai đoạn phát triển và kết quả nổi bật của một số phong trào tiêu biểu.
  4. Luận giải một số đặc điểm, đánh giá ý nghĩa của phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc giai đoạn 1961-1975; đúc rút các kinh nghiệm lịch sử có thể kế thừa và vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của công trình được xác định rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước những năm 1961-1975.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1961 đến năm 1975, mốc mở đầu tính từ ngày Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW (ngày 26/01/1961) về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước bảo đảm hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước năm 1961 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cho đến ngày cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi hoàn toàn (30/4/1975).
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ miền Bắc thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (từ vĩ tuyến 17 trở ra phía Bắc, tương ứng với phần địa giới hành chính phía bắc tỉnh Quảng Trị hiện nay), trọng tâm là các địa bàn phát triển phong trào tiêu biểu như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Quảng Bình.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành và diễn biến thực tế của các phong trào thi đua tiêu biểu trong các tầng lớp nhân dân, lực lượng vũ trang và các ngành kinh tế, văn hóa: "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Trống Bắc Lý", "Cờ Ba nhất", "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang".

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong Chương 1 của luận án phân loại nguồn tư liệu và các công trình nghiên cứu đi trước thành hai nhóm chính:

Các công trình nghiên cứu ngoài nước về thi đua xã hội chủ nghĩa

Nhóm này tập trung vào các công trình lý luận kinh điển và khảo sát thực tiễn tại các nước xã hội chủ nghĩa:

  • Tác phẩm lý luận của V.I. Lênin: "Tổ chức thi đua như thế nào?" (xuất bản năm 1976), làm rõ bản chất ưu việt của thi đua xã hội chủ nghĩa, phân biệt với cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, khẳng định tổ chức thi đua là nhiệm vụ của chính quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Tác phẩm của J. Stalin: "Bàn về thi đua xã hội chủ nghĩa" (1959), khẳng định thi đua của hàng triệu quần chúng công nhân là một trong những sự kiện quan trọng của công cuộc kiến thiết xã hội chủ nghĩa.
  • Sách chuyên khảo của X. Ghéc-sơ-Béc: "Những người trinh sát của tương lai" (1962), phân tích sự chỉ đạo của Đảng Bôn-sê-vích Nga đối với phong trào thi đua.
  • Sách của I-a-cốp Svét-xơ: "Thi đua xã hội chủ nghĩa là như thế nào" (1975), phân tích sự ra đời của "Ngày thứ Bảy cộng sản" năm 1919 tại trạm sửa chữa đầu máy xe lửa Mát-xcơ-va Xoóc-ti-rô-anai-a và sự phát triển của phong trào thi đua tại Liên Xô từ năm 1930.
  • Sách của Thạch Lam và Quý Nghĩa: "Kinh nghiệm tổ chức thi đua xã hội chủ nghĩa trong một xưởng máy" (1959), đúc rút kinh nghiệm tổ chức thi đua lôi cuốn 90% công nhân tại xưởng máy quốc doanh Thượng Hải (Trung Quốc).
  • Sách "Vài nét về phong trào thi đua Thiên Lý Mã" (1964), phản ánh phong trào thi đua tổ, đội Thiên Lý Mã trong công cuộc kiến thiết của giai cấp công nhân Triều Tiên.

Các công trình nghiên cứu trong nước

Tác giả chia các công trình trong nước thành các tiểu nhóm:

  • Các nghiên cứu thời kỳ 1958-1975: Điển hình là "Thi đua yêu nước - trước kia và hiện nay" của Nguyễn Văn Tạo (1958); tập bài nói "Bước tiến mới của phong trào thi đua yêu nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội" (1962); "Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành toàn diện và vượt mức kế hoạch Nhà nước" của Lê Thanh Nghị (1963); "Tổ lao động xã hội chủ nghĩa nâng cao năng suất lao động" của Lê Hồng Tâm (1964); "Một số kinh nghiệm xây dựng và củng cố phong trào tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa ở cơ sở" của Lâm Hồng Kỳ (1965); các sách hướng dẫn thi đua của tổ chức Công đoàn như "Công tác thi đua sản xuất của công đoàn" (1964), "Nắm vững yêu cầu nội dung Hội nghị Ba cao điểm" (1964), "Công đoàn vận động phong trào thi đua phát huy sáng kiến hợp lý hóa sản xuất, cải tiến kỹ thuật" (1977).
  • Các bộ lịch sử tổng kết chiến tranh và hậu phương miền Bắc: Bộ sách 9 tập "Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)" của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013), đặc biệt là Tập III, Tập IV, Tập VI, Tập VII và Tập IX đề cập đến vai trò hậu phương và các phong trào thi đua "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba nhất", "Trống Bắc Lý", tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa.
  • Các công trình về tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách thi đua của Đảng: Tuyển tập của Lê Văn Yên - Nguyễn Duy Cát (2000), Lê Quang Thiện - Vũ Trọng Bình (2008), Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương (2008), Trương Quốc Bảo (2010), Nguyễn Thái Anh (2010), Phạm Hùng (2011), Thông tấn xã Việt Nam (2018), Viện Khoa học Xã hội - Nhân văn (2008).
  • Các công trình lịch sử ngành, giới và địa phương: Lịch sử Vận tải Quân sự (1992); sách của Nguyễn Thị Ngọc Lâm về phụ nữ quân đội (2001); các công trình về thanh niên xung phong của Văn Tùng (1990, 2001), Đinh Văn Đệ (2002); sách và kỷ yếu phong trào phụ nữ "Ba đảm đang" của Lê Chân Phương (2006), Đỗ Quảng - Nguyễn Trí Tình (1967), tư liệu phụ nữ Hải Phòng, Thái Bình, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Tuyên Quang; sách về thanh niên "Ba sẵn sàng" của Hồ Trúc (1966), Vũ Quang (1968), Phạm Bá Khoa (2007, 2011).
  • Các luận văn, luận án và bài báo khoa học: Luận văn của Nguyễn Công Loan (1995), Trần Thương Hoàng (2003); luận án tiến sĩ của Phạm Bá Khoa (2007), Phùng Thị Hiển (2009), Nguyễn Quang Liệu (2010), Trương Mai Hương (2011), Hoàng Thị Phương (2018); các bài viết trên Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Thanh niên, Tạp chí Quốc phòng toàn dân của các tác giả Nguyễn Văn Trân, Trần Khang, Nguyễn Trọng Phúc, Nguyễn Thị Tình, Dương Đình Lập, Phùng Thị Hiển.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Qua khảo sát, tác giả nhận định phần lớn các công trình xuất bản trước năm 1975 mang tính chất chỉ đạo, tổng kết thực tiễn phục vụ tuyên truyền chính trị trước mắt. Các công trình công bố sau năm 1975 chủ yếu nghiên cứu từng phong trào đơn lẻ, nghiên cứu cục bộ trong phạm vi một địa phương, một ngành nghề hoặc một giai đoạn ngắn. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát một cách toàn diện, hệ thống tiến trình phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc xuyên suốt cả hai giai đoạn 1961-1965 và 1965-1975, làm rõ sự chuyển hướng nội dung thi đua từ hòa bình xây dựng sang vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, rút ra các đặc điểm bản chất và bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án được triển khai dựa trên:

  • Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân và bản chất của thi đua xã hội chủ nghĩa.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc: "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua", coi thi đua là động lực cách mạng và phương thức vận động quần chúng.
  • Đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng Lao động Việt Nam về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện nhiệm vụ hậu phương chiến lược đối với tiền tuyến lớn miền Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo, có sự kết hợp với các thao tác chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình vận động, phát triển cụ thể của các phong trào thi đua yêu nước theo trình tự thời gian liên tục từ năm 1961 đến năm 1975, gắn với các sự kiện, bối cảnh kinh tế - chính trị và nhân vật lịch sử cụ thể.
  • Phương pháp lôgic: Khái quát các giai đoạn phát triển, phân tích mối quan hệ nhân quả giữa đường lối của Đảng và thực tiễn hành động của quần chúng, từ các sự kiện lịch sử cụ thể rút ra bản chất, đặc điểm, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp so sánh: Áp dụng so sánh lịch đại (giữa giai đoạn 1961-1965 và giai đoạn 1965-1975; so sánh với các giai đoạn trước 1961) và so sánh đồng đại (giữa các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giáo dục, quân sự trong cùng một thời điểm) để nhận diện tính chất chuyển biến và bước phát triển của phong trào.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và thống kê sử học: Thu thập, phân loại, hệ thống hóa các tư liệu lưu trữ, văn kiện và số liệu định lượng về kinh tế - xã hội, số lượng cá nhân và tập thể danh hiệu để đưa ra các nhận định khách quan.

Nguồn tư liệu

Luận án khai thác hệ thống tư liệu đa dạng:

  • Các văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Quân đội và các tổ chức đoàn thể (Tổng Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ).
  • Các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
  • Nguồn tư liệu lưu trữ tại: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Lịch sử Đảng.
  • Các công trình lịch sử đảng bộ địa phương, lịch sử ban ngành, kỷ yếu hội thảo, hồi ký của các nhân chứng lịch sử.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Chương 1 khái quát các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài phong trào thi đua yêu nước. Nội dung chương chia làm hai phần chính: khảo cứu các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn thi đua ở các nước xã hội chủ nghĩa (Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên) và tổng quan các công trình nghiên cứu ở Việt Nam từ năm 1958 đến nay.

Tác giả chỉ rõ các ấn phẩm trước năm 1975 tập trung phản ánh kinh nghiệm thực tiễn và cổ vũ khí thế sản xuất, chiến đấu; các nghiên cứu sau năm 1975 mở rộng góc nhìn toàn diện hơn nhưng chủ yếu nằm rải rác trong các bộ toàn sử kháng chiến, lịch sử địa phương hoặc luận án nghiên cứu chuyên biệt về phụ nữ, thanh niên. Trên cơ sở chỉ ra những đóng góp và khoảng trống của các tài liệu đi trước, Chương 1 xác định phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận và hệ thống câu hỏi khoa học mà luận án tập trung làm rõ.

Chương 2. PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1965

Chương 2 trình bày cơ sở hình thành và thực tiễn phong trào thi đua yêu nước trong giai đoạn miền Bắc thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.

Về thực tiễn phong trào thi đua trước năm 1961, tác giả điểm lại 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (1948 - 5/1952): Mở đầu bằng Lời kêu gọi thi đua ái quốc ngày 11/6/1948, kết thúc bằng Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất (01/5/1952).
  • Giai đoạn 2 (5/1952 - 7/1958): Thi đua đẩy mạnh kháng chiến, cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế và phát triển văn hóa; kết thúc bằng Đại hội liên hoan Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ II (tháng 7/1958) với 26 Anh hùng lao động, 69 Anh hùng quân đội và 456 đại biểu đại diện cho hơn 42.700 chiến sĩ thi đua toàn miền Bắc.
  • Giai đoạn 3 (7/1958 - 12/1960): Thi đua cải tạo xã hội chủ nghĩa. Chỉ thị số 168-CT/TW ngày 28/10/1959 của Ban Bí thư đổi tên "phong trào thi đua" thành "phong trào thi đua yêu nước".

Tác giả thống kê các thành tựu đến cuối năm 1960:

  • Toàn miền Bắc xây dựng được 41.401 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút khoảng 86% số hộ nông dân và 76% diện tích đất canh tác (gần 12% số hộ vào hợp tác xã bậc cao).
  • Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp bình quân đạt 5,6%/năm; sản xuất công nghiệp tăng bình quân 21,7%/năm.
  • Nông trường quốc doanh tăng từ 16 (năm 1957) lên 59 cơ sở (năm 1960).
  • Công nghiệp địa phương tăng gấp 10 lần so với năm 1957; công nghiệp nhẹ và thực phẩm tăng 60,4%.
  • Xí nghiệp quốc doanh tăng từ 97 cơ sở (năm 1957) lên 172 xí nghiệp do Trung ương quản lý và hơn 500 xí nghiệp do địa phương quản lý; công nghiệp quốc doanh chiếm 89,9% tổng giá trị sản lượng công nghiệp.
  • Về văn hóa - giáo dục: căn bản xóa mù chữ cho người dưới 50 tuổi; số học sinh phổ thông tăng 2 lần, sinh viên đại học và học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 4 lần so với năm 1957; cơ sở y tế tăng 11 lần so với năm 1955.

Về bối cảnh và chủ trương giai đoạn 1961-1965: Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW (ngày 26/01/1961) xác định mục tiêu phong trào thi đua phục vụ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất theo phương châm "nhiều, nhanh, tốt, rẻ". Tiếp đó, Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 19/02/1962) xác định nhiệm vụ thống nhất lãnh đạo thi đua từ Trung ương đến cơ sở.

Trước nguy cơ đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh, ngày 27/3/1964, Hội nghị Chính trị đặc biệt được triệu tập tại Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi "mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt". Ngày 14/4/1964, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 77-CT/TW chính thức phát động cao trào thi đua "Mỗi người làm việc bằng hai, ra sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, tích cực ủng hộ cách mạng giải phóng miền Nam".

Các phong trào thi đua tiêu biểu giai đoạn 1961-1965:

Tên phong trào Lĩnh vực Đơn vị xuất phát điểm Nội dung cốt lõi
"Gió Đại Phong" Nông nghiệp Hợp tác xã Đại Phong (huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình) Cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất cây trồng, phát triển chăn nuôi, thực hiện phong trào "Bốn tốt" (đoàn kết tốt, sản xuất tốt, quản lý tốt, chấp hành chính sách tốt).
"Sóng Duyên Hải" Công nghiệp Nhà máy Cơ khí Duyên Hải (thành phố Hải Phòng) Thao diễn kỹ thuật, phát huy sáng kiến, hợp lý hóa sản xuất, cải tiến công cụ lao động, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm.
"Trống Bắc Lý" Giáo dục Trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) Thi đua "Dạy tốt, học tốt", thực hiện phương châm giáo dục kết hợp học tập với lao động sản xuất, nghiên cứu lý thuyết đi đôi với thực hành.
"Cờ Ba nhất" Quân đội, lực lượng vũ trang Đại đội 2 Đoàn Vinh Quang; Quân khu Tả Ngạn Đạt thành tích cao nhất ở ba nội dung: Bắn súng trúng nhất (huấn luyện quân sự tốt nhất), kỷ luật nghiêm nhất, rèn luyện tác phong và nội bộ đoàn kết nhất.

Chương 3. PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC Ở MIỀN BẮC TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975

Chương 3 trình bày sự chuyển hướng toàn diện của phong trào thi đua yêu nước trong điều kiện miền Bắc trực tiếp đương đầu với chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và chi viện cho chiến trường miền Nam.

Bối cảnh lịch sử và chủ trương: Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ (tháng 8/1964) và việc Mỹ mở rộng ném bom miền Bắc từ đầu năm 1965, Đảng đề ra chủ trương chuyển hướng xây dựng kinh tế và tăng cường quốc phòng, chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến. Phong trào thi đua lúc này mang hai nhiệm vụ chiến lược: vừa duy trì sản xuất bảo vệ hậu phương, vừa chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.

Các phong trào thi đua tiêu biểu giai đoạn 1965-1975:

  • Phong trào "Ba sẵn sàng" của thanh niên: Khởi đầu từ thanh niên Thủ đô Hà Nội vào đầu tháng 8/1964, sau đó nhanh chóng phát triển thành phong trào chung của tuổi trẻ toàn miền Bắc. Ba nội dung sẵn sàng gồm: sẵn sàng chiến đấu và gia nhập lực lượng vũ trang; sẵn sàng lao động sản xuất, công tác và học tập trong mọi điều kiện; sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì mà Tổ quốc cần. Phong trào đã lôi cuốn hàng triệu đoàn viên, thanh niên xung phong ra chiến trường, phục vụ giao thông vận tải và giữ vững sản xuất.
  • Phong trào "Ba đảm đang" của phụ nữ: Được Ban Chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam phát động vào tháng 3/1965 (ban đầu mang tên "Ba đảm nhiệm"). Ba nội dung cơ bản: đảm đang sản xuất và công tác thay thế nam giới đi chiến đấu; đảm đang gia đình, động viên chồng con yên tâm chiến đấu; đảm đang phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu khi cần thiết. Phong trào đã huy động lực lượng lao động nữ làm chủ ruộng đồng, nhà máy, bảo đảm nguồn nhân lực hậu phương vững chắc.
  • Phong trào xây dựng "Tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa": Tiếp tục được đẩy mạnh trong các xí nghiệp, hầm mỏ, công trường, bệnh viện, trường học với các hội nghị "Ba cao điểm" (năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều), thích ứng với điều kiện sản xuất sơ tán, phân tán để chống chiến tranh phá hoại.

Chương 4. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

Chương 4 tổng kết các đặc điểm cơ bản, đánh giá ý nghĩa lịch sử của phong trào và đúc kết 5 bài học kinh nghiệm:

Đặc điểm và ý nghĩa:

  • Phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 1961-1975 phát triển liên tục, mang tính quần chúng sâu rộng, kết hợp chặt chẽ giữa lao động sản xuất và chiến đấu vũ trang.
  • Phong trào là phương thức tập hợp lực lượng, khơi dậy tiềm năng lao động sáng tạo, đóng góp trực tiếp vào việc củng cố kinh tế miền Bắc, bảo vệ giao thông vận tải và chi viện toàn diện cho chiến trường miền Nam.

Hệ thống 5 bài học kinh nghiệm được luận án đúc kết:

  1. Tăng cường và thống nhất sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy vai trò của Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc phát động và tổ chức thi đua yêu nước hiệu quả, thiết thực.
  2. Tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, động viên khí thế thi đua, đặc biệt chú trọng việc khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thi đua yêu nước.
  3. Căn cứ vào mục tiêu và nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn cách mạng để xác định mục đích, nội dung, hình thức thi đua thích hợp.
  4. Lắng nghe nguyện vọng của nhân dân, phát huy tính chủ động, sáng tạo của cá nhân và tiến hành thi đua thường xuyên, liên tục trên cơ sở lấy lòng yêu nước làm gốc, xem công việc hàng ngày là nền tảng của thi đua.
  5. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, phổ biến sáng kiến, kịp thời biểu dương, khen thưởng, nhân rộng những điển hình tiên tiến sau mỗi đợt thi đua.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định 5 đóng góp mới về mặt khoa học lịch sử:

  • Cung cấp một hệ thống tư liệu lịch sử đầy đủ, có độ xác thực cao về phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc trong toàn bộ giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1961-1975), tổng hợp từ nhiều nguồn lưu trữ Trung ương và Quân đội.
  • Góp phần làm rõ cơ sở hình thành các phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt chứng minh sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò vận động của các tổ chức quần chúng (Tổng Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Phụ nữ).
  • Phục dựng khách quan, chân thực diện mạo các phong trào thi đua điển hình qua hai thời kỳ: 1961-1965 (xây dựng chủ nghĩa xã hội) và 1965-1975 (vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại); khẳng định giá trị thực tiễn của các phong trào đối với sự ổn định của hậu phương miền Bắc và thắng lợi của cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam.
  • Luận giải có căn cứ khoa học về các đặc điểm, ý nghĩa lịch sử của phong trào thi đua yêu nước thời kỳ này; đúc kết 5 kinh nghiệm thực tiễn có giá trị kế thừa cho công tác thi đua - khen thưởng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác giáo dục truyền thống cách mạng, phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên đề lịch sử Việt Nam hiện đại và lịch sử phong trào thi đua yêu nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung phản ánh các phong trào thi đua tiêu biểu trên quy mô toàn miền Bắc ("Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Trống Bắc Lý", "Cờ Ba nhất", "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang"), do đó chưa thể bao quát chi tiết tất cả các phong trào thi đua có tính chất đặc thù tại từng ngành hẹp, từng địa bàn cấp huyện, xã hoặc vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong cùng giai đoạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Từ kết quả của luận án, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát phong trào thi đua yêu nước tại các khu vực tiền tuyến quân khu 4 (nơi trực tiếp đối đầu ác liệt với chiến tranh phá hoại), nghiên cứu chuyên sâu về các phong trào thi đua trên tuyến đường vận tải chiến lược Trường Sơn (Đường 559), hoặc so sánh phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc với phong trào "Năm xung phong" và phong trào thi đua giết giặc lập công của quân dân miền Nam trong cùng giai đoạn 1961-1975.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Lịch sử: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975, lịch sử hậu phương chiến tranh và lịch sử tổ chức quần chúng.
  • Giảng viên và cán bộ giảng dạy khoa học xã hội: Cung cấp nguồn tư liệu xác thực, các bảng số liệu kinh tế và mốc văn kiện chính xác phục vụ soạn thảo bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về thi đua - khen thưởng: Cung cấp các luận cứ thực tiễn và 5 bài học kinh nghiệm trong Chương 4 về việc phát hiện, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình, tránh bệnh hình thức, gắn nội dung thi đua với nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng cơ quan, đơn vị hiện nay.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định mốc thời gian bắt đầu và kết thúc của phong trào thi đua yêu nước nghiên cứu dựa trên sự kiện nào?

Luận án lấy mốc mở đầu là ngày 26/01/1961, thời điểm Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước nhằm bảo đảm hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1961 và Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Mốc kết thúc là ngày 30/4/1975, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi hoàn toàn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

2. Bốn lá cờ đầu trong phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc đầu thập niên 1960 đại diện cho những ngành, lĩnh vực nào?

Bốn ngọn cờ thi đua xuất phát từ các mô hình cơ sở tiêu biểu:

  • Nông nghiệp: Hợp tác xã Đại Phong (Quảng Bình) với phong trào "Gió Đại Phong".
  • Công nghiệp: Nhà máy Cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) với phong trào "Sóng Duyên Hải".
  • Giáo dục: Trường Phổ thông cấp II Bắc Lý (Hà Nam) với phong trào "Trống Bắc Lý".
  • Lực lượng vũ trang: Phong trào "Cờ Ba nhất" trong Quân đội nhân dân Việt Nam và dân quân tự vệ (bắn súng trúng nhất, kỷ luật nghiêm nhất, rèn luyện tác phong tốt nhất).

3. Số liệu nào trong luận án phản ánh thành quả phong trào thi đua cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tính đến cuối năm 1960?

Luận án dẫn số liệu: đến cuối năm 1960, toàn miền Bắc có 41.401 hợp tác xã nông nghiệp (86% hộ nông dân, 76% đất canh tác); nông nghiệp tăng trưởng bình quân 5,6%/năm, công nghiệp tăng 21,7%/năm; xí nghiệp quốc doanh tăng lên 172 cơ sở trung ương và trên 500 cơ sở địa phương (chiếm 89,9% giá trị sản lượng công nghiệp); cơ sở y tế tăng 11 lần so với năm 1955; xóa mù chữ cho người dưới 50 tuổi.

4. Bối cảnh nào dẫn đến sự ra đời của cuộc vận động "Mỗi người làm việc bằng hai"?

Trước việc đế quốc Mỹ gia tăng khiêu khích và chuẩn bị mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, ngày 27/3/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị Chính trị đặc biệt tại Hà Nội và kêu gọi nhân dân "làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt". Thực hiện lời kêu gọi này, ngày 14/4/1964, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 77-CT/TW chính thức phát động phong trào trên toàn miền Bắc.

5. Nguồn tư liệu lưu trữ chính yếu được tác giả khai thác trong luận án gồm những cơ quan nào?

Tác giả đã trực tiếp khai thác tài liệu gốc tại: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và Viện Lịch sử Đảng.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đặng Thị An là công trình chuyên khảo sử học phục dựng hệ thống và toàn diện tiến trình phong trào thi đua yêu nước ở miền Bắc qua hai giai đoạn 1961-1965 và 1965-1975. Thông qua nguồn tư liệu lưu trữ xác thực và phương pháp nghiên cứu lịch sử - lôgic chặt chẽ, luận án đã làm rõ sự chuyển hướng nội dung thi đua phù hợp với hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện tiền tuyến đánh thắng đế quốc Mỹ. Các bài học kinh nghiệm được rút ra trong công trình cung cấp luận cứ khoa học có giá trị tham khảo cho công tác phát động, tổ chức thi đua và khen thưởng trong giai đoạn hiện nay.