Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Lịch sử của tác giả Nguyễn Thị Thủy (Trường Đại học Thủ Dầu Một, niên khóa 2011 – 2015, dưới sự hướng dẫn của ThS. Phạm Văn Thịnh) tập trung nghiên cứu đề tài: "Quá trình phát triển của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương (1960 – 1977)".

Về bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài, tác giả phân tích rằng lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Khi đế quốc Mỹ can thiệp và xâm lược miền Nam, sự ra đời của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (20/12/1960) đã đáp ứng đòi hỏi tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân để đánh đổ ách thống trị của đế quốc và chính quyền tay sai. Ngay sau sự kiện này, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một đã chủ trương thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng của tỉnh. Dựa trên liên minh công – nông, Mặt trận tỉnh đã tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân, dân tộc, tôn giáo, trí thức, nhân sĩ yêu nước và tư sản dân tộc, phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh vũ trang, chính trị và binh vận nhằm đánh bại các chiến lược quân sự của đối phương, giành độc lập và tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, tái thiết địa phương (1975 – 1977). Việc nghiên cứu tiến trình này có ý nghĩa quan trọng trong việc khôi phục bức tranh toàn diện của lịch sử địa phương tỉnh Bình Dương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định trên hai phương diện cụ thể:

  1. Về phương diện khoa học: Tái hiện bức tranh tổng thể về quá trình hình thành và phát triển của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương (1960 – 1977); cung cấp tư liệu, thông tin và đánh giá khái quát về vị trí, vai trò, đóng góp của Mặt trận đối với công cuộc kháng chiến và kiến quốc tại địa phương.
  2. Về phương diện thực tiễn: Đúc kết một số kinh nghiệm lịch sử trong công tác xây dựng và phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phục vụ công tác Mặt trận trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình phát triển của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương (1960 – 1977).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Thủ Dầu Một (trong các giai đoạn có biến động sáp nhập địa giới như tỉnh Thủ Biên, Phân khu Thủ Biên, tỉnh Sông Bé).
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1960 (thời điểm thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng) đến năm 1977 (thời điểm triệu tập Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).
  • Lĩnh vực nghiên cứu: Lịch sử Việt Nam / Lịch sử địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên các chủ trương, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam và cương lĩnh hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Tác giả vận dụng các văn kiện và nghị quyết mang tính định hướng lịch sử:

  • Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (1930) và Chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh (18/11/1930).
  • Chỉ thị "Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" (3/1945) và Mười chính sách lớn của Việt Minh (8/1945).
  • Chính sách 10 điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960).
  • Các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Nghị quyết 15 (1959), Nghị quyết 18 (1970), và Nghị quyết Trung ương 24 khóa III (1975).
  • Các văn bản pháp lý quốc tế: Hiệp định Giơnevơ (1954) và Hiệp định Pari (1973).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp đặc thù của khoa học lịch sử:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic: Đặt sự phát triển của Mặt trận tỉnh trong tiến trình chung của lịch sử tỉnh Thủ Dầu Một và phong trào cách mạng miền Nam (1954 – 1975) nhằm phân tích mối quan hệ nhân quả và quy luật vận động.
  • Phương pháp phỏng vấn hồi cố: Tiến hành phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, các đồng chí lão thành cách mạng từng trực tiếp hoạt động và chiến đấu trên địa bàn Bình Dương.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến đánh giá từ các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh Bình Dương.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu: Xử lý và đối chiếu các nguồn sử liệu thành văn để bảo đảm tính xác thực của sự kiện.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các văn kiện Đảng, tài liệu lưu trữ, báo cáo tổng kết lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (2003), công trình "Lịch sử chính quyền nhân dân tỉnh Bình Dương (1945 – 2005)" của PGS.TS. Lê Hữu Phước, tài liệu hồi ký "Chung một bóng cờ" (1993), công trình chuyên khảo "Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (1960 – 1977)" của PGS.TS. Hà Minh Hồng (2010), và sách "Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam – Quá khứ và hiện tại" của GS.TS. Trần Hậu (2011).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Đặc điểm tự nhiên, dân cư và hoạt động của Mặt trận Dân tộc Thống nhất ở Thủ Dầu Một – Bình Dương từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến năm 1960

Chương 1 phân tích các yếu tố nền tảng về địa lý tự nhiên, cấu trúc kinh tế – xã hội và quá trình hoạt động của Mặt trận Dân tộc Thống nhất qua các thời kỳ tiền đề trước năm 1960.

Yếu tố khảo sát Đặc điểm chi tiết trong văn bản khóa luận
Vị trí địa lý & Địa hình Diện tích 2.694,4 km² (xếp thứ 4 miền Đông Nam Bộ); tọa độ 10°51'46"–11°30'B, 106°20'–106°58'Đ. Phía Bắc giáp Bình Phước, Nam giáp TP.HCM, Đông giáp Đồng Nai, Tây giáp Tây Ninh và TP.HCM. Địa hình chuyển tiếp lượn sóng yếu, độ cao 10 – 15m so với mặt nước biển.
Thổ nhưỡng & Thủy văn Đất xám trên phù sa cổ (200.000 ha tại Dầu Tiếng, Bến Cát, Thuận An, Thủ Dầu Một); đất nâu vàng (35.206 ha); đất phù sa Glây (7.900 ha). Hệ thống 3 con sông lớn (chủ đạo là sông Sài Gòn).
Dân cư & Kinh tế Dân số năm 2011 đạt 1.400.000 người (nam: 813.600 người, nữ: 877.000 người, mật độ 628 người/km²; thành thị gần 1.200.000 người, nông thôn 607.000 người). Gồm 15 dân tộc (chủ yếu là Kinh, Hoa, Khmer). Nghề truyền thống: cao su, lúa nước, mộc, điêu khắc, gốm sứ, sơn mài. Cơ cấu kinh tế năm 2010: công nghiệp – xây dựng 63%, dịch vụ 32,6%, nông lâm nghiệp 4,4%.

Về tiến trình hoạt động của Mặt trận trước năm 1960, chương này làm rõ ba giai đoạn:

  • Giai đoạn 1930 – 1945: Sau khi chi bộ Bình Nhâm thành lập, các tổ chức Nông hội đỏ, hội tương tế, hội ái hữu, hội vạn cấy ra đời. Giai đoạn Mặt trận Dân chủ (1936 – 1939), tờ tin Tranh đấu xuất bản, các Ủy ban hành động được lập ở nhà dân để vận động Đông Dương Đại hội. Tháng 5/1941, Mặt trận Việt Minh tỉnh Thủ Dầu Một được tổ chức (Nguyễn Đức Nhàn làm Chủ nhiệm, Trịnh Kim Ảnh lãnh đạo Thanh niên tiền phong, Cao Thị Lình phụ trách Phụ nữ). Đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công ngày 25/8/1945 do Bí thư Tỉnh ủy Văn Công Khai công bố.
  • Giai đoạn 1945 – 1954: Mặt trận Việt Minh vận động nhân dân diệt giặc đói, diệt giặc dốt qua phong trào Bình dân học vụ, đóng góp "Tuần lễ vàng", tham gia Bầu cử Quốc hội khóa I (Nguyễn Văn Tiết, Nguyễn Văn Lộng, Nguyễn Đức Nhàn trúng cử). Tháng 5/1951, sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên, Mặt trận Liên Việt tỉnh Thủ Biên được thành lập do Võ Văn Đợi làm Chủ tịch.
  • Giai đoạn 1954 – 1960: Sau Hiệp định Giơnevơ, Tỉnh ủy rút vào hoạt động bí mật, cán bộ bám dân theo phương châm "cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng đấu tranh". Ngày 30/1/1960, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị tại Bến Cát quán triệt Nghị quyết 15, lập Ban chỉ đạo Đồng Khởi và Ban đấu tranh chính trị trực diện, chuyển phong trào từ đấu tranh chính trị sang kết hợp đấu tranh vũ trang.

Chương 2: Quá trình phát triển của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương trong kháng chiến và kiến quốc (1960 – 1977)

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, tái hiện chi tiết tiến trình hoạt động của Mặt trận tỉnh qua 4 giai đoạn lịch sử:

Giai đoạn lịch sử Nội dung và sự kiện then chốt của Mặt trận tỉnh
1960 – 1965 (Thành lập, hưởng ứng Đồng Khởi, phá ấp chiến lược) - Tháng 9/1960: Tỉnh ủy chủ trì thành lập Ủy ban Mặt trận Giải phóng tỉnh Thủ Biên, chỉ định Võ Minh Đức làm Chủ tịch, triển khai thực hiện Chính sách 10 điểm.
- Tháng 6/1961: Tách tỉnh Thủ Biên, tái lập tỉnh Thủ Dầu Một, cơ quan Tỉnh ủy chuyển về căn cứ Bông Trang.
- Tổ chức huấn luyện công tác quần chúng theo 5 bước: Điều nghiên → Tuyên truyền → Tổ chức → Huấn luyện → Đấu tranh.
- Hưởng ứng phong trào "Thi đua Ấp Bắc, diệt giặc lập công" (1963). Chỉ đạo phá ấp chiến lược kiểu mẫu Bến Tượng, giải phóng hơn 3.000 dân.
- Ngày 27/2/1965: Tiến hành Đại hội đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một lần thứ nhất.
1966 – 1969 (Đoàn kết nhân dân đánh Mỹ - diệt ngụy) - Phối hợp lực lượng vũ trang bẻ gãy 3 cuộc hành quân càn quét quy mô lớn của Mỹ: cuộc càn Attleboro (11/1966 tại Dương Minh Châu), cuộc càn Cedar Falls (1/1967 tại Tam giác sắt Củ Chi – Bến Cát – Bến Súc), và cuộc càn Junction City (53 ngày đêm tại chiến khu Dương Minh Châu).
- Vận động quần chúng bám đất sản xuất tại chỗ, đấu tranh chống cào nhà gom dân, vận chuyển lương thực bằng xe thồ, xe trâu bò chi viện hỏa tuyến trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.
1969 – 1975 (Thực hiện nhiệm vụ Chính phủ Cách mạng Lâm thời) - Tháng 6/1969: Bầu Ủy ban Nhân dân Cách mạng tỉnh Thủ Dầu Một (Chủ tịch: Nguyễn Văn Trung, Phó Chủ tịch: Bùi Khánh Ngươn, Hoàng Xích Thanh, Thư ký: Nguyễn Thanh Vân).
- Triển khai phương thức đấu tranh "hai chân, ba mũi", chống kế hoạch bình định nông thôn của đối phương.
- Tháng 5/1971 sáp nhập thành Phân khu Thủ Biên; tháng 9/1972 tái lập tỉnh Thủ Dầu Một.
- Sau Hiệp định Pari (1973), cơ quan Mặt trận tỉnh vận động thu mua hàng trăm tấn lương thực từ ấp chiến lược và vùng giải phóng để nuôi quân.
- Hội nghị Tỉnh ủy (14–16/4/1975) phát động toàn dân nổi dậy phối hợp cùng các quân đoàn chủ lực giải phóng hoàn toàn tỉnh Thủ Dầu Một trong mùa Xuân 1975.
1975 – 1977 (Hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng chính quyền) - Ủy ban Quân quản tỉnh (Chủ tịch: Nguyễn Văn Hữu, Phó Chủ tịch: Bùi Xuân Thuận) cấp phát hơn 160 tấn gạo cứu đói cho hơn 40.000 người; tổ chức đưa hơn 40.000 đồng bào Bình Long, Dầu Tiếng hồi hương.
- Phổ biến chính sách khoan hồng, tổ chức đăng ký trình diện, học tập cải tạo cho hàng chục ngàn sĩ quan, binh lính chế độ cũ.
- Tháng 2/1976: Sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước thành tỉnh Sông Bé (Diện tích 9.859 km², dân số 558.018 người, gồm 62.461 đồng bào dân tộc thiểu số; Chủ tịch: Nguyễn Văn Luông, Phó Chủ tịch: Bùi Xuân Thuận).
- Huy động gần 200.000 lao động và lực lượng vũ trang tháo dỡ hàng chục vạn quả bom mìn, phục hồi hàng chục ngàn hecta đất sản xuất.
- Cử tri tham gia Bầu cử Quốc hội thống nhất ngày 25/4/1976.
- Từ 31/1 đến 4/2/1977: Đại hội Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam tại TP.HCM quyết định hợp nhất thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Chủ tịch danh dự: Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch: Hoàng Quốc Việt).

Chương 3: Một số nhận xét, đánh giá về đặc điểm, vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một đối với công cuộc kháng chiến và kiến quốc

Chương 3 tổng kết các nhận định khoa học về vai trò lịch sử của Mặt trận tỉnh trên hai lĩnh vực:

  • Đối với công cuộc kháng chiến: Mặt trận là ngọn cờ tập hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự và công tác binh vận. Hệ thống Mặt trận cơ sở đã bảo vệ hành lang chiến lược nối liền miền Đông Nam Bộ với hậu phương miền Bắc và chiến trường Sài Gòn – Gia Định; vận động sức người, sức của, bảo đảm công tác hậu cần và tổ chức các phong trào sản xuất tự túc tại các chiến khu Đ, Bông Trang, Tam giác sắt.
  • Đối với công cuộc kiến quốc: Mặt trận đóng vai trò nòng cốt trong việc tuyên truyền chính sách đại đoàn kết dân tộc, ổn định tư tưởng nhân dân sau ngày giải phóng; vận động nhân dân khai hoang phục hóa, tiếp nhận đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới, xóa bỏ tàn dư văn hóa cũ và củng cố hệ thống chính quyền nhân dân các cấp trước khi chuyển giao sang tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu chính

Khóa luận đã trích xuất và hệ thống hóa các số liệu, sự kiện lịch sử xác thực về Mặt trận tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương:

  • Tái hiện quy trình phát triển tổ chức Mặt trận qua các thời kỳ thay đổi đơn vị hành chính: tỉnh Thủ Dầu Một (1960), tỉnh Thủ Biên (1960 – 1961), tỉnh Thủ Dầu Một (1961 – 1971), Phân khu Thủ Biên (1971 – 1972), tỉnh Thủ Dầu Một (1972 – 1976), và tỉnh Sông Bé (1976 – 1977).
  • Ghi nhận đầy đủ danh sách lãnh đạo Mặt trận và chính quyền cách mạng qua các mốc lịch sử: Nguyễn Đức Nhàn (Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh 1941), Võ Văn Đợi (Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Thủ Biên 1951), Võ Minh Đức (Chủ tịch Mặt trận Giải phóng Thủ Biên 1960), Nguyễn Văn Trung (Chủ tịch UBND Cách mạng Thủ Dầu Một 1969), Nguyễn Văn Hữu (Chủ tịch Ủy ban Quân quản tỉnh 1975), và Nguyễn Văn Luông (Chủ tịch tỉnh Sông Bé 1976).
  • Cung cấp các số liệu thực tiễn sau ngày giải phóng năm 1975: Cấp phát 160 tấn gạo cứu trợ khẩn cấp cho hơn 40.000 người; đưa hơn 40.000 người dân hồi hương; huy động gần 200.000 lao động rà phá bom mìn, khôi phục diện tích canh tác; quy mô dân số tỉnh Sông Bé năm 1976 đạt 558.018 người với 62.461 người thuộc các dân tộc thiểu số.

2. Đúc kết bài học kinh nghiệm

Tác giả rút ra các bài học về công tác Mặt trận:

  • Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đối với tổ chức Mặt trận trong mọi tình huống đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp lẫn bí mật.
  • Quán triệt nguyên tắc liên minh công – nông, kết hợp hài hòa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc để mở rộng tối đa thành phần tham gia Mặt trận (trí thức, tiểu thương, tôn giáo, dân tộc, tư sản dân tộc).
  • Vận dụng linh hoạt phương châm "hai chân, ba mũi" (quân sự, chính trị, binh vận) và quy trình vận động 5 bước vào thực tiễn địa phương.

3. Đóng góp khoa học

Khóa luận đã bổ khuyết các mảng tư liệu chuyên sâu về hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cấp tỉnh tại miền Đông Nam Bộ, góp phần làm phong phú nguồn sử liệu của công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương và Lịch sử Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về nguồn tư liệu thành văn của địa phương qua các thời kỳ chiến tranh và khả năng tiếp cận nhân chứng lịch sử, một số hoạt động của các đoàn thể thành viên (như Nông hội, Phụ nữ giải phóng, Thanh niên giải phóng) tại các vùng tranh chấp chưa được phản ánh chi tiết và đồng đều qua từng năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình tổ chức và hoạt động của Mặt trận tỉnh Thủ Dầu Một với các tỉnh khác trên chiến trường miền Đông Nam Bộ; đi sâu khai thác mảng tài liệu phỏng vấn hồi cố từ các nhân chứng thuộc các thành phần tôn giáo, tư sản dân tộc và nhân sĩ tham gia Mặt trận trong giai đoạn 1960 – 1975.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Giảng viên, sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Việt Nam; các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước và khu vực Đông Nam Bộ; cán bộ phụ trách công tác tuyên giáo, dân vận và Mặt trận Tổ quốc các cấp.
  • Nội dung giá trị: Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị cao ở Chương 2, nơi hệ thống hóa toàn bộ các mốc sự kiện, văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, quy trình 5 bước vận động quần chúng, các số liệu phục hồi kinh tế – xã hội sau ngày giải phóng năm 1975 và danh mục nhân chứng lịch sử trực tiếp phỏng vấn.

Câu hỏi thường gặp

1. Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một (giai đoạn ghép tỉnh Thủ Biên) được thành lập khi nào và ai giữ chức vụ Chủ tịch đầu tiên?
Tháng 9/1960, thực hiện chủ trương của Xứ ủy Nam Bộ sáp nhập hai tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên, Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị đại biểu các đoàn thể thành lập Ủy ban Mặt trận Giải phóng tỉnh Thủ Biên và chỉ định đồng chí Võ Minh Đức làm Chủ tịch.

2. Phương pháp vận động quần chúng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Thủ Dầu Một gồm những bước nào?
Mặt trận và các tổ chức đoàn thể tỉnh tổ chức hoạt động phong trào theo quy trình 5 bước:

  1. Điều nghiên (điều tra nghiên cứu tình hình đối phương);
  2. Tuyên truyền (quảng bá sự thật, giác ngộ quần chúng);
  3. Tổ chức (tập hợp quần chúng vào tổ chức chặt chẽ);
  4. Huấn luyện (đào tạo nhân tố nòng cốt);
  5. Đấu tranh (phát động phong trào từ thấp đến cao).

3. Cuộc đấu tranh phá ấp chiến lược kiểu mẫu tiêu biểu nào của tỉnh Thủ Dầu Một đã giải phóng hơn 3.000 dân?
Đó là cuộc đấu tranh phá ấp chiến lược kiểu mẫu Bến Tượng do Tỉnh ủy Thủ Dầu Một chọn làm điểm chỉ đạo đồng loạt nổi dậy, giải phóng hơn 3.000 dân, đánh dấu sự thất bại của quốc sách ấp chiến lược trên địa bàn tỉnh.

4. Sau ngày 30/4/1975, Ủy ban Quân quản tỉnh Thủ Dầu Một đã thực hiện các biện pháp cứu tế khẩn cấp nào?
Ủy ban Quân quản tỉnh (do Nguyễn Văn Hữu làm Chủ tịch) đã cấp phát hơn 160 tấn gạo cứu đói cho hơn 40.000 đồng bào tại thị xã và tổ chức đưa hơn 40.000 đồng bào ở Bình Long, Dầu Tiếng trở về quê cũ ổn định đời sống.

5. Khi tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước sáp nhập thành tỉnh Sông Bé vào tháng 2/1976, quy mô hành chính và dân số của tỉnh được ghi nhận ra sao?
Tỉnh Sông Bé được thành lập với diện tích tự nhiên 9.859 km² (lớn nhất miền Đông Nam Bộ), dân số đạt 558.018 người, trong đó có 62.461 người là đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ máy lãnh đạo tỉnh gồm đồng chí Nguyễn Văn Luông làm Chủ tịch và đồng chí Bùi Xuân Thuận làm Phó Chủ tịch.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thủy đã tái hiện một cách có hệ thống quá trình hình thành, củng cố và phát triển của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tỉnh Thủ Dầu Một – Bình Dương giai đoạn 1960 – 1977. Tác phẩm đã phân tích rõ nét vai trò tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh quân sự, chính trị và binh vận để đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn, đồng thời tham gia xây dựng, củng cố chính quyền nhân dân và phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Công trình là tài liệu khoa học hữu ích phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Sư phạm Lịch sử và nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương tỉnh Bình Dương.