CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CĂN CỨ TỈNH ỦY THỦ DẦU MỘT TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, TỪ 1955 ĐẾN 1975 1. Cơ sở hình thành căn cứ cách mạng ở Thủ Dầu Một 1. Cơ sở lý luận Từ quá khứ, cho tới hiện tại và mãi mãi mai sau, hai nhiệm vụ dựng nước - giữ nước luôn song hành cùng dân tộc Việt Nam. Với nhiệm vụ giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với những kẻ xâm lược hung - mạnh của thời đại, đông hơn gấp nhiều lần về con người, giàu mạnh hơn về tiềm lực kinh tế, trang thiết bị vũ khí chiến tranh, từ; Tần, Tống, Mông - Nguyên, Minh, Thanh và mới đây nhất, trong thế kỉ XX là Pháp, Mỹ và Trung Quốc.
Vậy đâu là cội nguồn của những chiến thắng? Đó chính là tinh thần dân tộc, ý chí độc lập, thống nhất đất nước. Nhưng một câu hỏi luôn được đặt ra: làm thế nào để lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều? Qua quá trình đấu tranh với kẻ thù, dân tộc Việt Nam đã rút ra bài học: chỉ có phát động chiến tranh nhân dân, biến mỗi xóm làng thành một pháo đài, mỗi người dân thành một chiến sĩ thì mới đi tới thắng lợi cuối cùng. Chọn, xây dựng căn cứ địa cho mỗi cuộc kháng chiến là một trong những điểm nổi bật của chiến tranh nhân dân Việt Nam và cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng, hàng đầu dẫn tới thắng lợi cuối cùng của dân tộc trước những kẻ thù xâm lược. Lê - nin từng nói: "Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương được tổ chức một cách vững chắc.
Tiếp thu có chọn lọc học thuyết Mác - Lênin trong điều kiện tình hình đất nước, chống lại những đế quốc mạnh, Đảng cộng sản Việt Nam đã nâng tầm vấn đề xây dựng căn cứ địa lên 12 một bước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người "anh cả" của Quân đội nhân dân Việt Nam từng viết: "Nói đến đấu tranh vũ trang, đến xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng thì không thể không nói đến vấn đền căn cứ địa cách mạng, vấn đề hậu phương của chiến tranh cách mạng" [47, tr. Căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu tranh vũ trang cách mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng.
Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng cộng sản Việt Nam đã cùng nhân dân xây dựng các căn cứ, nơi đứng chân: Căn cứ địa Việt Bắc, Chiến khu Đ, Chiến khu Đồng Tháp Mười, Căn cứ Trung ương Cục, Căn cứ Khu ủy Miền Đông Nam Bộ, Chiến khu Dương Minh Châu. Chiến tranh nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, đánh địch ở cả ba vùng chiến lược; nông thôn, rừng núi, đô thị. Bằng ba mũi giáp công; quân sự, chính trị, binh vận. Bằng lực lượng ba thứ quân; quân chính quy, quân địa phương và dân quân du kích.
Ở Việt Nam, cách mạng luôn thể hiện tinh thần tiến công bằng mọi hình thức hợp pháp, bất hợp pháp, nửa hợp pháp, tiến công từ nhỏ đến lớn, giành thắng lợi từng bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn. "Ngay ở vùng địch tạm chiếm đóng, ta vẫn tiến công địch sử dụng các hình thức công khai hợp pháp để giành thắng lợi dù nhỏ cho cách mạng, kết hợp từng lúc một có những hoạt động vũ trang phá hoại kho tàng địch hay diệt ác, trừ gian trong lòng địch, làm địch rúng động, lo sợ, gây niềm tin trong đồng bào" [26, tr. 13 Trước hành động quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai của thực dân Pháp, do vai trò quan trọng của cả Nam Bộ, trong Chỉ thị của Trung ương Đảng ngày 25 tháng 12 năm 1945, việc xây dựng căn cứ địa đã được đặt ra. Chỉ thị nêu rõ, phải chọn đóng ở những địa điểm chiến lược lợi hại, tiến có thể đánh, lùi có thể giữ, kế hoạch tiến công cũng như kế hoạch rút lui, phải hết sức chu đáo, phòng thủ mọi mặt: địa điểm, cán bộ, lương thực, thuốc men, quần áo, vụ khí, vật liệu, cơ kiện.
Sau đó, trong nhiều văn kiện và chỉ thị khác, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2 năm 1951) đã nêu rõ: "Công tác xây dựng căn cứ địa là một vấn đế chiến lược quan trọng ngang hàng với vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang, không thể tách rời vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang. Vì không xây dựng căn cứ địa tức là không tích cực bồi dưỡng nguồn nhân lực, vật lực cần thiết cho việc xây dựng và phát triển quân đội" [26, tr. Căn cứ Chỉ thị của Trung ương Cục năm 1953, đồng thời xuất phát từ tình hình thực tế của miền Đông Nam Bộ. Bộ tư lệnh Phân liên khu miền Đông Nam Bộ đã ra một "nghị quyết án" chuyên đề hướng dẫn nội dung công tác củng cố và mở rộng các căn cứ nằm trên địa bàn phân liên khu.
Vì có tiến hành củng cố và mở rộng căn cứ mới "làm hậu phương vững chắc cho du kích chiến" và "không hạn chế sự phát triển của các lực lượng vũ trang có điều kiện tiến thối bảo tồn mình trước sức tấn công đàn áp của giặc và phát triển mình tiêu diệt địch, củng cố và mở rộng phải bao gồm mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính kết hợp chặt chẽ với sự lãnh đạo của Đảng, không thể tách rời ra, và không thể thiên lệch một mặt nào [26, tr. Từ kinh nghiệm chỉ đạo xây dựng căn cứ địa trong kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ vần đề căn cứ địa tiếp tục được bàn luận và được xem như là một trong những quyết sách quan trọng của Đảng, bên cạnh mặt trận quân sự, chính trị, binh vận. Nghị quyết của Bộ chính trị tháng 6 năm 1956, nêu rõ "hình 14 thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang nhưng cần củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có; xây dựng căn cứ làm chỗ dựa" [67, tr. Trên cơ sở của Nghị quyết Trung ương Đảng và Bản đề cương cách mạng miền Nam của Lê Duẩn, tháng 12 năm 1956, Xứ ủy Nam Bộ tiến hành Hội nghị đề ra nhiệm vụ khẩn cấp cho miền Nam là "phải dùng bạo lực tổng khởi nghĩa giành chính quyền, trước mắt cần xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng các căn cứ miền núi" [18, tr.
Đó chính là những cơ sở lý luận trong việc chọn, xây dựng căn cứ địa của Đảng và những chỉ đạo của Trung ương Cục, Xứ ủy nam Bộ tới các địa phương, chú ý xây dựng, củng cố, mở rộng căn cứ địa trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Cơ sở lịch sử Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc cũng đã từng xuất hiện các căn cứ địa nổi tiếng như: Căn cứ Đầm Dạ Trạch tại Khoái Châu, Hưng Yên của Triệu Quang Phục, trong cuộc khởi nghĩa chống quân Lương thế kỉ thứ VI. Căn cứ Lam Sơn ở Thanh Hóa trong khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi chống lại quân Minh (1417 - 1427). Căn cứ Vụ Quang, Hà Tĩnh của Phan Đình Phùng.
Căn cứ Yên Thế của Hoàng Hoa Thám trong kháng chiến chống quân Pháp cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Sau ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, ngày 28 tháng 1 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, Người đã chọn Pắc Bó (Cao Bằng) làm căn cứ địa. Ngày 19 tháng 5 năm 1941, tại đây đã điễn ra Hội nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương Đảng. Ngày 4 tháng 6 năm 1945, xuất phát từ tình hình thực tiễn, yêu cầu của cách mạng, Người đã ra chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc, bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên,Tân 15 Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) được chọn làm Thủ đô của Khu giải phóng.
Sau khi kí Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt - Pháp năm 1946, nhưng vẫn không ngăn được dã tâm xâm lược của thực dân Pháp. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dân Việt Nam lại một lần nữa đứng lên chống Pháp với quyết tâm "thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, vấn đề căn cứ địa lại một lần nữa được quan tâm xây dựng. Ngay từ khi cuộc chiến đang diễn ra gay gắt tại Hà Nội và các thành phố lớn khác, Tân Trào lại được nhắc tới như một địa chỉ quan trọng nhất cho cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến di cư về chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.
Không chỉ là chọn, thành lập căn cứ đứng chân cho cơ quan đầu não của Trung ương mà ngay ở từng khu, từng tỉnh, Trung ương cũng chỉ thị thành lập các căn cứ địa của khu, của tỉnh thậm chí là của huyện và các lõm du kích trong những xã bị chiếm đóng. Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, miền Đông Nam Bộ là địa bàn chiến lược quan trọng, các thắng lợi trên mặt trận chính trị, quân sự ở đây có ảnh hưởng tới các chiến trường khác trong cả nước. Chính vì tầm quan trọng có tính chiến lược mà Đông Nam Bộ trong 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc đã xuất hiện rất nhiều các căn cứ, chiến khu cách mạng: Căn cứ Rừng Sác, Chiến khu Dương Minh Châu, Căn cứ của Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam Bộ, Địa đạo Củ Chi, Chiến khu Đ, Chiến khu Minh Đạm. Thủ Dầu Một (Bình Dương), do vị trí chiến lược quan trọng của mình, nằm ngay sát nách Sài Gòn, thủ phủ của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ.
Nơi đây tiến có thể đánh thẳng vào cơ quan đầu não của kẻ thù, lui có thể bảo toàn được lực lượng cách mạng vì có sông, có rừng làm "biên giới" tự nhiên.