Chương 1. Những điều kiện tự nhiên xã hội và quá trình hình thành cảng thị Hội An (37 trang) Luận án tập trung phân tích những đặc điểm về vị trí địa lý tự nhiên vùng Hội An và những điều kiện lịch sử - xã hội cũng như những biến động về kinh tế tác động tới sự hình thành đô thị thương cảng Hội An. Đánh giá vai trò của Hội An trên tuyến đường thương mại ở biển Đông, trong khu vực ĐNA và đóng góp của nó trên tuyến hàng hải thế giới. Những đặc điểm này cho thấy rõ tính chất của một thương cảng trong lịch sử.
Từ đó định hình một cảng thị Hội An phát triển mạnh vào thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII. Được kế thừa và hội tụ của các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chămpa, vùng QN - ĐN đã trở thành một trung tâm văn hoá lớn tạo tiền đề cho Hội An hình thành và phát triển. Tuy nhiên, để có được một cảng thị Hội An phải kể tới quá trình hình thành và phát triển của nó trong suốt thời kỳ các chúa Nguyễn. Nhờ vào những chính sách khai thông và cởi mở, Hội An là vùng đất mời chào nhiều thương nhân từ khắp nơi đến buôn bán, giao thương và sinh sống dài lâu.
Để có được khối cộng đồng dân cư Việt chung sống với các cư dân từ các nước khác tới, chúa Nguyễn đã phải có những chính sách điều phối linh hoạt vừa có thể hài lòng được khách thương mà vẫn an lòng được người dân bản xứ. Cũng dưới thời các chúa Nguyễn, thiết chế xã hội và dân cư ở Hội An được định hình. Hiện tượng “cộng sinh” “hỗn dung văn hoá” xuất hiện, cư dân Việt gốc 16 z ngày càng nhường chỗ cho cư dân và thương nhân các nước sinh sống. Đặc trưng này tạo nên nền văn hoá có dáng vẻ quốc tế đa dân tộc.
Chương 2: Di tích kiến trúc Hội An từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII (45 trang) Ở chương này, chúng tôi phân tích các yếu tố cơ bản từ khi Hội An chỉ là vùng đất mới cho đến khi nó đã định hình là đô thị. Đó là thời kỳ tiền Hội An (trước thế kỷ XVI) và thời kỳ Hội An (thế kỷ XVI - XVIII) để thấy rõ qua những bước thăng trầm trong lịch sử đô thị vẫn có sự góp mặt của các loại hình kiến trúc mang phong cách, đặc trưng bố cục và niên đại hình thành cùng với những biến động của lịch sử Hội An. Chúng tôi cũng mạnh dạn đưa ra những phỏng đoán về loại hình kiến trúc thương điếm dựa trên những cứ liệu ghi chép lịch sử, bản vẽ… để có hình dung một cách tương đối hình ảnh của loại hình kiến trúc này cũng như những khu phố riêng biệt của các thương nhân khi trú chân ở Hội An Thông qua các loại hình di tích kiến trúc, luận án cũng đưa ra những luận điểm về quy mô và diện mạo của Hội An thời kỳ hình thành và phát triển. Chương 3: Di tích kiến trúc Hội An từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX (33 trang) Ở chương3, chúng tôi chia niên đại di tích theo 2 thời kỳ, đó cũng là niên đại tương đồng của đô thị Hội An: - Di tích kiến trúc đô thị Hội An từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX - Di tích kiến trúc đô thị Hội An từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX Ở giai kỳ lịch sử này, yếu tố tự nhiên và lịch sử - xã hội là tác nhân quan trọng làm biến đổi hình thái đô thị Hội An.
Hội An không còn giữ vai trò như trước trong lịch sử. Đô thị này hưng khởi vì chính những lý do trên và cũng lụi tàn vì lý do đó. Tuy nhiên, các loại hình kiến trúc truyền thống vẫn tồn tại và xuất hiện 17 z những loại hình mới bổ xung thêm vẻ đa dạng của quỹ kiến trúc đô thị. Các loại hình kiến trúc về cơ bản đã dần định hình và thống nhất về hình thức.
Điều kiện lịch sử - xã hội chính là nguyên nhân ra đời các loại hình kiến trúc này, nói cách khác, cách thức thể hiện và phân bố của các loại hình kiến trúc này lại phản ảnh trực tiếp đến diện mạo, quy mô, phạm vi của đô thị Hội An khi đó. Trước thế kỷ XIX, về cơ bản, cấu trúc phố xá ở Hội An vẫn mang nét truyền thống chỉ đến khi người Pháp đến thì Hội An được tiếp nhận loại hình kiến trúc công sở mới so với phong cách kiến trúc theo kiểu thức phương Đông trước đó. Còn kiến trúc nhà phố được bổ sung và có những biến đổi về hình thức mặt tiền và cấu trúc bên trong. Các khu phố được mở rộng do sự biến đổi của địa hình thì cũng được quy hoạch và chỉnh trang dưới ý đồ của chính quyền thuộc địa.
Kết quả là, một hình ảnh đô thị Hội An có sự pha trộn kiến trúc Việt Nam truyền thống và kiến trúc địa phương Pháp. Có thể nói, đến thời điểm đầu thế kỷ XX, về cơ bản đường phố và di tích kiến trúc Hội An đã căn bản được hoạch định và tồn tại cho đến ngày nay. Chương 4: Phong cách kiến trúc đô thị Hội An (41 trang) Sau khi đã hệ thống và phân tích sự chuyển đổi hình thái đô thị và các di tích kiến trúc Hội An qua tiến trình lịch sử (từ đầu đến đầu thế kỷ XX), chúng tôi rút ra những đặc trưng cơ bản của kiến trúc đô thị Hội An. Đặc trưng này thể hiện bản sắc riêng của khu phố và quỹ kiến trúc đô thị Hội An là độc đáo và có phong cách riêng.
Chương 4 phân tích 2 đặc trưng cơ bản: Đặc trưng về không gian kiến trúc đô thị và nghệ thuật trang trí kiến trúc công trình. Từ những đặc trưng đó, chúng tôi có những so sánh với những đô thị trong và ngoài nước để tìm ra đặc trưng chung của các đô thị trung cổ Việt Nam, cũng như của các đô thị ở phương Đông. Có thể thấy, nằm trong hệ thống đô thị cổ của châu Á, đô thị Hội An có những đặc điểm riêng biệt, có phần nổi trội hơn so với các đô thị trong nước và ngoài nước. Vì thế, vẫn có thể nhận thấy hình thái đô thị phương Đông đặc trưng và 18 z hình thái đô thị miền Trung trong hệ thống đô thị cổ Việt Nam.
Chúng tôi đặc biệt chú trọng đến việc so sánh trên cơ sở các loại hình kiến trúc, sự ảnh hưởng và nét tương đồng trong kết cấu kiến trúc giữa Hội An với đô thị trong nước và 2 đô thị điển hình của châu Á là Nhật Bản và Trung Quốc. DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN (2 trang) E. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 272 tài liệu (22 trang) D. PHỤ LỤC: Phụ lục viết: 11phụ lục (59 trang) và 65 ảnh minh hoạ Phụ lục minh hoạ: 19 bảng ảnh, 4 bảng biểu, 8 sơ đồ, 22 bản đồ, 45 bản vẽ.
19 z CHƢƠNG 1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CẢNG THỊ HỘI AN -------- 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÙNG HỘI AN 1. Vị trí địa lý và lịch sử hình thành vùng đất Hội An hiện là một thị xã của tỉnh Quảng Nam cách Đà Nẵng 32km về phía đông nam và cách thị xã tỉnh lỵ Tam Kỳ 55km về phía bắc. Hội An có diện tích 6.084ha, dân số khoảng 80.000 người, gồm 5 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Thanh Hà, Tân An và 7 xã Cẩm Nam, Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Châu, Cẩm Thanh, Cẩm An, Tân Hiệp.
Hội An nằm trên toạ độ trải rộng từ 17052’ đến 17063’ vĩ Bắc và từ 108015’ đến 108050’ kinh Đông.1] Vùng Đà Nẵng - Hội An là nơi tiếp xúc giữa đất liền và biển cả, gắn liền với sự hình thành và phát triển của sông Thu Bồn. Những biến đổi về địa chất còn chịu tác động mạnh mẽ do chiều hướng phát triển và những hoạt động kinh tế của nhân dân nơi đây. Các kết quả nghiên cứu địa chất đã chứng minh miền đất phân bố các đô thị từ Đà Nẵng đến Hội An với diện tích hơn 500km2, chủ yếu cấu tạo bởi trầm tích Kainozoi do hoạt động của các sông Cu Đê, sông Hàn, sông Thu Bồn. và biển ven bờ bồi tụ trên mặt bào mòn của các thành tạo đá Paleozoi - Mezozoi thuộc đới cấu trúc kiến tạo Caledoni Quảng Nam - Đà Nẵng (QN - ĐN).
Đới này kéo dài từ phía Tây biên giới Việt - Lào, ôm lấy diềm Đông Bắc khối vỏ lục địa tiền Cambri Kon Tum rồi chúc chìm dưới Biển Đông. [208] Thời kỳ tạo vỏ lục địa Caledoni của đới QN - ĐN gắn liền với sự phá huỷ rìa lục địa tiền Cambri KonTum. 19 z Thời kỳ kiến tạo hồi sinh do tạo riftơ nội lục, hình thành trũng chồng Nông Sơn chất đầy bởi trầm tích chứa than và lục nguyên tuổi Nori đến Jura giữa. Thời kỳ Tân sinh đặc trưng bởi sự tái hoạt động của các đứt gãy Thành Mỹ - Ngũ Hành Sơn, Đại Lộc - Hội An, Trà Kiệu, Hiệp Đức - Cửa Đại, sông Cu Đê - La Vân.
hình thành địa hào Đại Lộc - Hội An, khởi đầu từ hệ tầng đá vụn thô hệ tầng Ái Nghĩa tuổi Neogen đến trầm tích Pleistocen và Holocen có nguồn gốc sông, biển, đầm lầy xen kẽ nhau theo hướng mở rộng và trải từ tây sang đông. Tại đây ghi nhận sự ảnh hưởng của hoạt động Tân Sinh hình thành Biển Đông, mà đứt gẫy kinh tuyến 1100 cách bờ biển Đà Nẵng không xa. Rõ ràng, vùng đô thị Đà Nẵng - Hội An là nơi tiếp xúc giữa đất liền và biển. Sự hình thành và phát triển vùng của sông Thu Bồn lại chịu ảnh hưởng rất lớn các điều kiện của biển lẫn lục địa.
Những biến đổi về địa chất trong vùng còn chịu tác động mạnh mẽ do chiều hướng phát triển và những hoạt động kinh tế của nhân dân. Đặc điểm khí tƣợng thuỷ văn 1. Đặc điểm khí hậu Chế độ gió: Vùng Hội An chịu tác động của hai mùa gió chủ yếu: Gió mùa Đông (từ tháng 1 đến tháng 3 có gió mùa hướng đông bắc, bắc - tây bắc). Gió mùa Hạ (tháng 4 đến tháng 10 hướng gió đông - đông nam), hay có bão và áp thấp nhiệt đới (thường xảy ra vào cuối tháng 10).
Mùa mậu dịch hàng năm ở Hội An dựa trên sự biến đổi khí hậu và thời tiết. Vào thời điểm gió mùa tây bắc thổi vào các tháng 9,10,11,12 và đông bắc vào các tháng 1,2,3 có tốc độ 3 - 3,5m/s cũng xuất hiện trong thời kỳ mưa rét ở Hội An.