Chương 1: Tổng quan tư liệu: 16 trang. Chương 2: Những đặc điểm móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ: 37 trang. Chương 3: Diễn biến và giá trị của việc nghiên cứu móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ: 12 trang. Phần Kết luận: 2 trang.
Tài liệu tham khảo: 14 trang. Phụ lục bảng thống kê mô tả: 88 trang Phụ lục bản đồ: 14 trang. Phụ lục sơ đồ: 6 trang. Phụ lục bản vẽ: 100 trang.
25 Phụ lục bản ảnh: 66 trang. Những trang đầu luận văn có mục lục và bảng các chữ viết tắt, các bảng biểu, bản đồ, sơ đồ, bản vẽ và bản ảnh ****************** Luận văn này được hoàn thành với sự hướng dẫn của PGS. Với tư cách là người hướng dẫn khoa học, Thầy đã động viên khuyến khích, ủng hộ nghiên cứu của tôi và có những chỉ dẫn khoa học sâu sắc. Với Thầy, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn và sự kính trọng.
Xin được cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Khảo cổ học đã quan tâm, tạo điều kiện cho tác giả rất nhiều trong qúa trình học tập, nghiên cứu. Xin trân trọng khắc ghi những tình cảm tốt đẹp đó. Xin được bày tỏ sự tri ân đối với những nhà nghiên cứu đi trước, anh chị em đồng nghiệp, bầu bạn đồng học. đã có những ý kiến đóng góp trao đổi, động viên khích lệ.
Tác giả cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình của Trung tâm Tư liệu Thông tin Thư viện, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Khảo cổ học, Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Nhân học, Phòng Tư liệu Khoa Lịch sử. trong qúa trình thu thập tư liệu. Xin trân thành cảm ơn! Những hạn chế về tư liệu, về khả năng nhận thức của tác giả, nên luận văn này vẫn còn những thiếu sót nhất định. Tác giả mong muốn nhận được sự góp ý của người đọc để tác giả ngày càng nâng cao được nhận thức của mình trên con đường nghiên cứu khoa học.
26 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TƢ LIỆU 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi thấy cần thiết trình bày ngay từ đầu một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài “Móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ qua tài liệu khảo cổ học” như các khái niệm "Móng", "Nền" “Móng kiến trúc” “Móng nền” “Móng cột” Móng Như đã nói ở trên, vấn đề nền móng luôn thu hút sự quan tâm của các công trình sư. Vậy móng là gì? Châu Ngọc Ẩn, trong cuốn “Nền móng” xuất bản năm 2002 và sau này ấn phẩm tái bản năm 2009 dưới cái tên “Nền móng công trình” đã viết "Phần bên dưới công trình, thường được gọi là móng được cấu tạo bởi những vật liệu xây dựng cứng hơn đất nền như: móng các công trình dân dụng và công nghiệp, móng cầu, móng cảng, móng dàn khoan.11] Như vậy có thể thấy, Châu Ngọc Ẩn chưa đưa ra một định nghĩa thật sự đầy đủ về móng. Tác giả mới chỉ xem “Phần bên dưới công trình, thường được gọi là móng được cấu tạo bởi những vật liệu xây dựng cứng hơn đất nền” mà chưa đề cập đến chức năng của móng. Vấn đề chức năng của móng đã được Tạ Đức Thịnh và cộng sự làm sáng tỏ hơn trong cuốn “Nền và móng công trình”.
Trong ấn phẩm này, các tác giả đã đưa ra định nghĩa như sau “Móng của công trình là bộ phận nằm dưới mặt đất của công trình, có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình truyền xuống nền sao cho công trình làm việc ổn định” [84, tr. Rõ ràng là với định nghĩa như trên, định nghĩa về móng đã phần nào đầy đủ hơn. Cùng cho rằng móng 27 là phần bên dưới công trình, nhưng Tạ Đức Thịnh và cộng sự lại đưa ra một định nghĩa về móng một cách cụ thể hơn. Theo các tác giả, móng là bộ phận nằm dưới mặt đất của công trình.
Đồng thời, họ cũng chỉ rõ công năng của móng là có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình truyền xuống nền sao cho công trình làm việc ổn định. Quan điểm này phần nào nhận được sự ủng hộ của các tác giả tập “Bài giảng nền móng”, Bộ môn Cơ sở kỹ thuật xây dựng, Khoa xây dựng cầu đường, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng. Trong tập bài giảng này, họ đã đưa ra định nghĩa như sau về móng: "Móng là bộ phận chịu lực đặt thấp nhất, là kết cấu cuối cùng của nhà hoặc công trình. Nó tiếp thu tải trọng công trình và truyền tải trọng đó lên nền đất dưới đáy móng" [15, tr.
Đồng thời, các tác giả này cũng đưa ra những khái niệm khác về móng như "Mặt móng", "Gờ móng" "Đáy móng" [15, tr.1] Ngoài những ấn phẩm chuyên ngành xây dựng tiêu biểu nói trên, định nghĩa về móng có thể thấy trong một số tác phẩm khác như “Từ điển bách khoa Việt Nam”, “Đại từ điển Tiếng Việt”… Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” thì “Móng là kết cấu nằm dưới cùng của công trình xây dựng (nhà, cầu, đập nước, vv). Móng truyền trực tiếp tải trọng công trình vào nền đất. Móng phải được thiết kế và xây dựng sao cho công trình không bị lún quá độ lún cho phép, vì chính độ lún không đều thường gây ra nứt đổ vỡ các công trình xây dựng".929] “Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên đưa ra định nghĩa như sau “Móng lớp vật liệu dưới cùng nằm sâu trong lòng đất để chịu sức nặng của công trình xây dựng [121, tr. Như vậy, có thể thấy ít nhiều có sự khác biệt nhất định trong cách định nghĩa về móng của các tác giả nói trên nhất là về vấn đề vị trí của móng trong kết cấu của công trình.
Châu Ngọc Ẩn quan niệm “phần bên dưới công trình thường được gọi là móng” còn Tạ Đức Thịnh và cộng sự cho rằng “móng của công trình là bộ phận 28 nằm dưới mặt đất của công trình”. Các tác giả của “Bài giảng nền móng”, “Từ điển bách khoa Việt Nam”, “Đại từ điển tiếng Việt” thì xác định một cách cụ thể hơn vị trí của móng trong kết cấu của công trình. Theo họ móng “là bộ phận chịu lực đặt thấp nhất, là kết cấu cuối cùng của nhà hoặc công trình”, là “kết cấu nằm dưới cùng của công trình xây dựng” hay là “lớp vật liệu dưới cùng”. Mặc dù, còn có những khác biệt nhất định trong quan điểm về vị trí của móng, nhưng hầu hết các tác giả này đều cho rằng móng có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng công trình xuống nền đất để công trình làm việc ổn định.
Chúng tôi cho rằng, các cách hiểu móng “là bộ phận chịu lực đặt thấp nhất, là kết cấu cuối cùng của nhà hoặc công trình”, là “kết cấu nằm dưới cùng của công trình xây dựng”, “lớp vật liệu dưới cùng” là đúng nhưng chưa thật sự đầy đủ. Đặc biệt, khó có thể coi móng đơn thuần là “lớp vật liệu dưới cùng” như Nguyễn Như Ý quan niệm. Trong trường hợp móng là một kết cấu bao gồm nhiều lớp vật liệu khác nhau thì không thể chỉ xem lớp vật liệu dưới cùng là móng được. Theo chúng tôi, “Móng là phần kết cấu nằm bên dưới công trình, nằm hoàn toàn dưới mặt đất hay nửa chìm nửa nổi, có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng của công trình xuống nền đất”.
Bên cạnh việc đưa ra những định nghĩa nói trên về móng, những tác giả này cũng đưa ra những quan điểm về các loại móng. Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” thì “Móng có các loại móng đơn, móng băng, móng bè, móng cọc’’ [42, tr. Châu Ngọc Ẩn đã phân chia móng thành móng nông, móng sâu và móng nửa sâu. Trong mỗi loại đó lại bao gồm những tiểu loại nhỏ hơn [2, tr.
Tạ Đức Thịnh và cộng sự theo cấu tạo, hình dáng và phương pháp thi công, lại chia móng thành bốn loại: Móng nông, móng cọc, móng sâu và móng máy (bệ máy). Trong mỗi loại cũng bao gồm những tiểu loại nhỏ hơn [84, tr. 29 Từ sự phân loại như trên có thể thấy, tuỳ vào từng tiêu chí mà móng có thể phân thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản vẫn thấy trong các cách phân loại nói trên có hai loại móng chung là móng nông và móng sâu.
Trong hai loại cơ bản này cũng tùy từng quan điểm, tùy từng cách nhìn nhận mà nó lại bao gồm những loại nhỏ hơn khác nhau. Nền Giữa hai khái niệm móng và nền luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau nên trong nhiều trường hợp người ta dùng cụm từ nền móng. Vậy nền là gì? Trong cuốn “Nền và móng công trình”, Tạ Đức Thịnh và cộng sự cho rằng “Nền công trình là tập hợp các lớp đất đá tự nhiên hoặc nhân tạo, có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình qua móng truyền xuống” [84, tr. Quan điểm này có những điểm tương đồng với định nghĩa về nền trong tập “Bài giảng Nền móng” của Bộ môn Cơ sở kỹ thuật xây dựng, Khoa xây dựng cầu đường, trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng “Nền là phần đất nằm dưới đáy móng, tiếp thu tải trọng từ móng truyền xuống” [15, tr.
Như vậy, có thể thấy “Nền công trình là kết cấu tự nhiên hoặc nhân tạo, nằm bên dưới đáy móng, có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình qua móng truyền xuống”. Bên cạnh đó, những tác giả này cũng đưa ra nhiều cách phân loại nền khác nhau. Các tác phẩm “Nền móng”, “Nền móng công trình” của Châu Ngọc Ẩn, “Nền và móng công trình” của Tạ Đức Thịnh hay tập “Bài giảng Nền móng” của Bộ môn Cơ sở kỹ thuật xây dựng, Khoa xây dựng cầu đường, trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đều chia nền thành “nền tự nhiên” và “nền nhân tạo” [2, tr. Ngoài ra, Tạ Đức Thịnh và cộng sự theo cách chịu tải của nền lại phân loại nền thành “nền cứng” và “nền mềm” [84, tr.
30 Tóm lại, hiểu một cách đơn giản “Móng là phần kết cấu nằm bên dưới công trình, nằm hoàn toàn dưới mặt đất hay nửa chìm nửa nổi, có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng của công trình xuống nền đất” và “Nền là phần đất, đá tự nhiên hoặc nhân tạo nằm dưới móng tiếp nhận tải trọng công trình qua móng truyền xuống”. Như vậy móng, nền có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng công trình để đảm bảo độ bền của công trình. Chúng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự bền vững của công trình. Giải quyết tốt bài toán về nền và móng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong xây dựng công trình cả về kinh tế và kỹ thuật.