Chương 1 : Vài nét về phố phường Hà Nội trước năm 1873 Chương 2 : Phố phường Hà Nội giai đoạn 1873-1920 (Tuyến phố Tràng Tiền – Hàng Khay – Tràng Thi) Chương 3: Cảnh quan đô thị của phố phường Hà Nội giai đoạn 1920- 1945 (Tuyến phố Tràng Tiền – Hàng Khay – Tràng Thi) 8 z Chƣơng 1: VÀI NÉT VỀ PHỐ PHƢỜNG HÀ NỘI TRƢỚC NĂM 1873 1. Khái quát chung về phố phƣờng Hà Nội Từ một làng nhỏ ven sông, trải qua bao đổi thay của thời gian, cho đến đầu thế kỷ XI với sự kiện Lý Thái Tổ dời đô từ vùng rừng núi Hoa Lư về nơi thành Đại La cũ, Thăng Long đã chính thức đi vào lịch sử như một thành thị trung đại Việt Nam. Trong buổi đầu thành lập, phần “thành” được thành lập trước tiên, sau đó kéo theo phần “thị”. Điều này được giải thích như sau: thành trì phong kiến – nơi giai cấp thống trị ở cần rất nhiều nhu cầu sinh hoạt xa xỉ.
Chính vì thế, các phiên họp chợ ngoài thành (nơi cung cấp hàng hóa cho giai cấp thống trị) từ chỗ họp thường kỳ rồi ai về nhà nấy đã dần dần có người cư ngụ lại trên đó để bán hàng. Những người thường trú này có thể là thợ thủ công hay thương nhân hoặc làm các nghề linh tinh khác. Khi cư ngụ lại, họ phải lập phố để ở. Theo sự phát triển của kinh tế hàng hóa cũng như nhu cầu của giai cấp thống trị và của nhân dân địa phương, các phố chợ dần được kéo dài ra, lợp mới, nối chợ nọ với chợ kia, biến dần dần các làng và ruộng làng thành các khu phố.
Trong nhiều thế kỷ tiếp theo đó, dù đã trưởng thành khá nhiều về quy mô nhưng Thăng Long hầu như không thay đổi về cấu trúc cơ bản. Suốt thời kỳ Lý – Trần, qua thời Lê sơ, thành thị này vẫn bao gồm hai bộ phận chính là “thành” và “thị”. Trong đó, khu vực “thành” đóng vai trò hạt nhân quyết định, khu vực “thị” là một bộ phận cộng sinh, tồn tại được là nhờ vào phần “thành”. Bước sang giai đoạn XVI – XVIII, kinh thành Thăng Long có bước phát triển đột khởi không những ở khu vực “thành” mà cả ở khu vực “thị”.
Đối với khu vực “thành”, đây là giai đoạn mà kinh thành đã trải qua ba đợt xây cất, mở rộng và tu bổ lớn. Lần thứ nhất do vua Lê Tương Dực tiến hành để thực hiện 9 z mục đích ăn chơi xa xỉ. Lần thứ hai do Mạc Mậu Hợp khởi xướng nhằm đề phòng những đợt tấn công của họ Trịnh. Và lần thứ ba có ý nghĩa và quan trọng nhất là do các chúa Trịnh tiến hành trong suốt thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII.
Sự phát triển của phần “thành” tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực “thị” của Thăng Long phát triển mạnh mẽ. Sở dĩ có thể khẳng định như vậy là vì khi tiến hành việc sửa sang, xây dựng quần thể các công trình kiến trúc, chính quyền phong kiến đã buộc phải huy động một lực lượng rất lớn những thợ thủ công thuộc các ngành nghề khác nhau từ các địa phương xung quanh về kinh đô để làm việc. Đến kinh đô và sau khi làm việc trong các công xưởng của nhà nước, nhiều thợ thủ công đã ở lại lập nghiệp tại các phố chợ, khiến cho khu vực “thị” ngày càng có sự phát triển mạnh mẽ. Không những thế, trong suốt thời kỳ tồn tại của mình, nhà nước phong kiến Lê – Trịnh còn duy trì ở Thăng Long một bộ máy quan liêu chính trị - quân sự thường trực khổng lồ.
Điều này đã tạo ra một nhu cầu cung ứng lớn lao về lương thực, thực phẩm, vật dụng, hàng hóa không chỉ trong những phố chợ nội tại của kinh thành mà còn từ các vùng phụ cận đổ về. Vốn đang trên đà phát triển, lại được kích thích bởi nhiều yếu tố thuận lợi, khu vực “thị” của Thăng Long đã có sự phát triển trội vượt. Cùng với khu vực “thành” nó đã đưa Thăng Long – Kẻ Chợ trở thành một trung tâm chính trị - kinh tế lớn nhất trong cả nước, một trong những thành thị lớn của vùng Đông Nam Á và phương Đông nói chung, trước sự chiêm ngưỡng không phải không có cơ sở của các lái buôn và giáo sỹ phương Tây: “Quy mô của Kẻ Chợ sánh ngang nhiều thành thị khác ở châu Á” [31, tr. Trong khu vực “thị” của Thăng Long, nơi phát triển nhộn nhịp nhất chính là khu vực buôn bán phía Đông, thường được dân gian gọi với cái tên “36 phố phường”.
Tên “phường” xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam, có thể từ thời Bắc thuộc. Nghĩa đầu tiên của khái niệm “phường” là chỉ một khu 10 z vực địa lý được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long. Dưới thời Trần, Trần Thái Tông tiến hành định các phường về hai bên tả hữu của kinh thành, chia thành 61 phường. Vào đầu thời Lê, cả nước có 56 phủ, 187 huyện, 54 châu hương, 9728 xã, 294 thôn, 59 phường.
Khu vực thượng kinh có 1 phủ, 2 huyện và 36 phường [79, tr. Ngoài ý nghĩa là một đơn vị hành chính, “phường” còn có ý nghĩa là một đoàn thể, một nhóm người có tổ chức cùng làm một nghề nghiệp (phường bạn, phường thợ, phường chèo). Bên cạnh khái niệm “phường” là khái niệm “phố”. “Phố” có nhiều nghĩa khác nhau: “Phố” theo Lê Qúy Đôn trong Thượng kinh phong vật chí là những chỗ bờ sông bến nước, trên bến dưới thuyền.
Ngoài tính chất như đã nêu trên, “phố” ở đây còn ám chỉ “phố xá”2 của từng khu phường hoặc làm nghề thủ công hoặc làm nghề buôn bán. Điều này có nghĩa là nếu như “phường” nguyên là một khu vực trong thành thị thì “phố” nguyên nghĩa là một chỗ bán hàng, nơi bày hàng (theo cách nói ngày nay là cửa hàng, cửa hiệu). Phố có thể là ngôi nhà bày hàng bán hoặc cũng có thể là một túp lều, một chỗ trống được lấy làm nơi bày hàng hóa để buôn bán. Nhiều ngôi nhà, nhiều các phố như vậy tập trung san sát nhau tạo thành một dãy phố.
Qua thời gian các dãy gồm nhiều phố ấy cũng được gọi tắt là phố và dần dần từ “phố” với nghĩa là một dãy các cửa hàng cửa hiệu đã lấn át từ “phố” với nguyên nghĩa là ngôi nhà bày bán hàng. Chính vì sự biến nghĩa này mà ngày nay khi phân biệt “phường” và “phố”, người ta coi phố như đường trục của phường gồm có một con đường, hai bên có nhà cửa – nhà ở và thường là cửa hiệu – có bề mặt trông ra ngoài đường. Trong khi các phường nặng về hoạt động sản xuất thì ở các phố lại chú trọng đến hoạt động buôn bán. Chính hoạt động này mới thể hiện rõ nét yếu tố “thị” của Thăng Long.
Vậy phố phường Thăng Long buôn bán những mặt hàng gì? 2 “Phố xá” là một từ quen thuộc trong ngôn ngữ dân tộc, trong tiếng Việt cổ “xá” có nghĩa là nhà ở, cửa hàng, cửa hiệu 11 z Thăng Long là đất đế đô, nơi kết tinh tài hoa tứ xứ. Những người thợ thủ công ở khắp nơi kéo về nội đô làm ăn. Họ mang theo những nghề đặc sắc của quê hương mình, họ làm hàng ở trong phường rồi bày bán ở các mặt phường là phố. Thường mỗi phố chỉ bán hoặc sản xuất sản phẩm của đôi ba làng nhất định.
Những phố nghề được hình thành từ đây. Tên của các phố được lấy từ chính tên nghề thủ công sản xuất và kinh doanh để đặt tên cho phố đó. Có thể kể tới các phố tiêu biểu như: phố hàng Lọng, hàng Mã, hàng Quạt, hàng Buồm, hàng Tre, hàng Thiếc, hàng Đào, hàng Bạc… Sự gắn bó thân thiết đó đã khiến cho người ta có cảm giác giữ tên phố hàng là đã giữ được cả linh hồn của nghề thủ công đó. Sự đa dạng của các mặt hàng thủ công và sự phát triển về hoạt động buôn bán đến mức các phố hàng của Thăng Long thời kỳ này còn thu hút cả những thương nhân người nước ngoài đến buôn bán và sinh sống như người Hà Lan, Anh, Pháp từ thế kỷ XVII và đặc biệt là tầng lớp thương nhân Hoa kiều đến buôn bán và cư trú từ đời Trần.
Phố hàng không còn dừng lại ở một khu vực buôn bán riêng của kinh thành nữa mà còn có xu hướng mở rộng đón nhận hoạt động ngoại thương từ bên ngoài. Trong bối cảnh đó diện mạo của phố phường Hà Nội hiện lên với những nét phác họa rõ nét và độc đáo. Như trên đã trình bày, những người nước ngoài đến Thăng Long từ rất sớm. Họ đã ghi chép, mô tả phố phường Thăng Long một cách tỉ mỉ, chi tiết và sống động.
Dưới những ghi chép của họ, quang cảnh đường phố trong các thế kỷ XVII – XVIII hiện lên thật rõ nét. “Những đường phố chính ở Kẻ Chợ thường rất rộng rãi, tuy vẫn có một vài ngõ phố chật hẹp. Phần lớn các phố đều được lát đá, đúng hơn là được vá víu bằng những phiến đá nhỏ, nhưng rất cẩu thả. Về mùa mưa, chúng rất bẩn thỉu và về mùa khô, vẫn còn những vũng nước đọng và một số mương rãnh đầy những bùn đen bốc mùi hôi thối ở trong và chung quanh thành phố.
Điều 12 z đó làm cho nơi đây trở nên không được ưa thích và có người cho rằng chúng cũng rất mất vệ sinh. Tuy nhiên theo những điều tôi cảm thấy và từng biết, thì nơi đây vẫn khá trong lành” [31, tr. Không chỉ miêu tả diện mạo đường sá mà quang cảnh phố phường mỗi khi có phiên chợ cũng được đề cập đến thật chi tiết. Chợ tràn ra cả lòng đường, hàng hóa bày la liệt cùng với người đi lại mua bán đổi chác làm cho đường sá của kinh thành gần như tắc nghẽn: “…dân số của Kẻ Chợ lớn hơn nhiều, nhất là vào phiên chợ ngày 1 và ngày 15 âm lịch hàng tháng khi người dân cùng với hàng hóa từ các làng ven đô đổ về đây nhiều không đếm xuể.
Những con phố ngày thường vốn rộng rãi và quang đãng giờ đây trở nên chật chội đến nỗi chỉ nhích được 100 bước trong vòng 30 phút đã là tốt lắm rồi” [31, tr. Nhà cửa ở hai bên mặt phố liền sát nhau, thường được dựng bằng tre và lợp bằng rơm rạ. Chiều cao của các ngôi nhà ở Thăng Long lúc bấy giờ tuân thủ nghiêm ngặt những quy định mà chính quyền phong kiến đã đề ra: “Vua chúa không cho phép những thần dân của mình xây nhà cao, vì sợ rằng họ có thể gây mưu hại.