Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Phong trào đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng và tiến tới Đồng khởi ở Bến Tre giai đoạn 1954-1960" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Tuyết Nhi (ngành Sư phạm Lịch sử, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Ngô Chơn Tuệ vào năm 2024.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử. Sau Hiệp định Genève (21/7/1954), đế quốc Mỹ từng bước hất cẳng thực dân Pháp, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam. Tại Bến Tre – vùng đất gồm ba cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh, cù lao An Hóa) với địa hình sông rạch chằng chịt – chính quyền Sài Gòn đã thực hiện hàng loạt chính sách đàn áp, khủng bố khốc liệt như chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", Luật 10/59, lập các khu trù mật và đưa máy chém đi khắp nơi hòng tiêu diệt cơ sở cách mạng. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây thường tập trung khai thác cao trào Đồng khởi năm 1960 mà chưa làm rõ một cách toàn diện quá trình đấu tranh gian khổ, bền bỉ để giữ gìn, súc tích lực lượng giai đoạn 1954-1959. Việc nghiên cứu giai đoạn này nhằm làm sáng tỏ nền tảng quyết định dẫn tới thắng lợi Đồng khởi, đồng thời phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy Lịch sử địa phương Bến Tre của tác giả.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước và đặc điểm địa phương tác động đến phong trào đấu tranh tại Bến Tre giai đoạn 1954-1960.
- Tái hiện toàn diện quá trình Đảng bộ và nhân dân Bến Tre đấu tranh giữ gìn lực lượng chính trị, vũ trang và cơ sở quần chúng từ năm 1954 đến khi nổ ra Đồng khởi năm 1960.
- Đánh giá khách quan ý nghĩa lịch sử và đúc kết những bài học kinh nghiệm về công tác bảo tồn, phát triển lực lượng cách mạng trong điều kiện bị kẻ thù đàn áp khốc liệt.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Sưu tầm, xác minh và tập hợp hệ thống tài liệu chính thống có độ tin cậy cao về lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng Bến Tre giai đoạn 1954-1960.
- Khái quát bối cảnh lịch sử, phân tích các hình thức và phương pháp đấu tranh chuẩn bị lực lượng của quân dân Bến Tre.
- Rút ra nhận định khoa học và các bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ nghiên cứu và thực tiễn.
- Tái hiện giai đoạn lịch sử hào hùng làm cơ sở đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, bồi dưỡng tình yêu quê hương và tinh thần "Đồng khởi mới".
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng và tiến tới Đồng khởi ở Bến Tre giai đoạn 1954-1960 dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bến Tre theo đường lối của Đảng Lao động Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Từ sau khi ký kết Hiệp định Genève (21/7/1954) đến phong trào Đồng khởi (năm 1960).
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bến Tre (có liên hệ, so sánh với bối cảnh Nam Bộ, cả nước và quốc tế).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở phương pháp luận: Khóa luận vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang, bạo lực cách mạng và chiến tranh nhân dân; tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước về đánh giá các sự kiện lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện trung thực, khách quan tiến trình các sự kiện, phong trào đấu tranh và công tác tổ chức lực lượng tại Bến Tre theo đúng trình tự thời gian và không gian lịch sử cụ thể (1954-1960).
- Phương pháp logic: Nghiên cứu bản chất, mối liên hệ nhân quả giữa các giai đoạn đấu tranh chính trị đơn thuần, đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ và chuyển sang khởi nghĩa từng phần; từ đó đúc kết quy luật và bài học kinh nghiệm.
- Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp liên ngành, sưu tầm - xử lý tư liệu, thống kê số liệu lịch sử, so sánh và phân tích tổng hợp.
Nguồn dữ liệu:
- Văn kiện, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ Chính trị (Nghị quyết tháng 9/1954, Nghị quyết tháng 6/1956, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 10 mở rộng năm 1956, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 mở rộng năm 1959) và Đề cương cách mạng miền Nam của đồng chí Lê Duẩn (1956).
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bến Tre (giai đoạn 1930-2000, 1930-2015) và lịch sử Đảng bộ các huyện Mỏ Cày, Bình Đại, Thạnh Phú, Giồng Trôm, TP. Bến Tre.
- Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học của Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
- Hồi ký lịch sử của các đồng chí lãnh đạo trực tiếp tham gia chỉ đạo phong trào (Không còn con đường nào khác của Nguyễn Thị Định, Hòa bình hay chiến tranh của Thượng tướng Trần Văn Trà).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Khái quát bối cảnh hình thành phong trào đấu tranh chống Mỹ - Diệm của nhân dân tỉnh Bến Tre (1954-1960)
Chương 1 làm rõ các yếu tố địa lý, nhân văn, truyền thống cách mạng và bối cảnh lịch sử tác động trực tiếp đến phong trào:
- Đặc điểm địa lý và con người Bến Tre: Vùng đất hợp thành bởi ba cù lao (An Hóa, Bảo, Minh), phù sa 4 nhánh sông Cửu Long (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên), địa hình chia cắt bởi kênh rạch hiểm trở, thuận lợi cho chiến tranh nhân dân nhưng khó xây dựng căn cứ địa tập trung lớn. Người dân có truyền thống yêu nước nồng nàn, đoàn kết tôn giáo (Phật giáo, Cao Đài, Công giáo), kiên cường chống ngoại xâm.
- Truyền thống đấu tranh trước 1954: Từ phong trào kháng Pháp thời Phan Tôn, Phan Liêm (1867), phong trào "tị địa", phá hoại kinh tế địch (đốt chợ Giồng Kẹo 1878, chợ Thơm 1879), Thiên Địa Hội (1916), đến cao trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản từ năm 1930 (các cuộc biểu tình hơn 10.000 người ở Châu Bình, Ba Tri, Giồng Trôm 1930-1931), Cách mạng tháng Tám 1945 và 9 năm kháng chiến chống Pháp.
- Tình hình Bến Tre sau Hiệp định Genève: Chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh thành Kiến Hòa (tháng 10/1956, gồm 4 quận: Trúc Giang, Hàm Long, Giồng Trôm, Bình Đại), thiết lập bộ máy kìm kẹp gồm gần 3.000 quân, 300 đồn bót; dựng 4 khu trù mật (Thới Thuận, An Hiệp - Ba Tri, An Hiệp - Sóc Sãi, Thành Thới - Mỏ Cày); ban hành Dụ số 2, Dụ 57 cướp lại 76.836 mẫu đất của nông dân. Địch thực hiện chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", phân loại gia đình A-B-C, ban hành Luật 10/59 và Luật số 21 đưa máy chém về tận các đình Đa Phước Hội, Phước Tuy để tàn sát cán bộ.
- Bối cảnh quốc tế và trong nước: Tác động của Chiến tranh Lạnh, việc thành lập khối quân sự SEATO (1954), thuyết Domino của Mỹ và chủ trương chuyển hướng đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève của Đảng Lao động Việt Nam.
Chương 2. Quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng tiến tới Đồng khởi giành thắng lợi ở Bến Tre (1954-1960)
Chương 2 phân tích cụ thể các giai đoạn đấu tranh và nghệ thuật tổ chức lực lượng:
- Giai đoạn 1954-1956 (Đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Genève):
- Tổ chức lực lượng: Thực hiện chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn (tháng 11/1955), Đảng bộ Bến Tre bố trí cán bộ "trường kỳ mai phục, súc tích thực lực", cài cắm nội tuyến vào chính quyền và quân đội địch (điển hình tại xã Châu Hòa cài người nắm chức ủy viên quân sự xã và 7/8 trưởng ấp). Toàn tỉnh phát triển hơn 2.000 cơ sở nội tuyến, xây dựng hơn 300 Hội yêu nước trong binh sĩ, khống chế 95% tề xã và 60-80% lính bảo an.
- Hệ thống "rễ chuối": Tổ chức mạng lưới bí mật: 1 đảng viên nắm 1-3 nòng cốt; 1 nòng cốt nắm 3-5 quần chúng tích cực; 1 quần chúng tích cực nắm 5-10 người dân. Đoàn Thanh niên Lao động nắm từ 30-50 quần chúng/đoàn viên. Tạm cấp hơn 100.000 ha ruộng đất cho nông dân cuối năm 1954 để củng cố lòng dân.
- Các cuộc đấu tranh tiêu biểu: Mít tinh tại Bình Đại (19/8/1954, 15.000 người), Châu Thành (28/8/1954, 5.000 người), Mỏ Cày (13/9/1954 với đoàn biểu tình 5km đòi bồi thường cho vụ anh Đứa). Quần chúng đấu tranh phản đối trò hề "trưng cầu dân ý" (10/1955) và tẩy chay bầu cử Quốc hội Diệm (04/3/1956 tại An Định, Phước Thuận).
- Giai đoạn 1956-1958 (Đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ chống "tố cộng, diệt cộng"): Tiếp thu Nghị quyết Bộ Chính trị (6/1956) và Đề cương cách mạng miền Nam, Tỉnh ủy Bến Tre chỉ đạo lập các tổ vũ trang tuyên truyền cấp huyện (2-3 súng do Bí thư Huyện ủy quản lý) và tự vệ mật cấp xã để trừ gian diệt ác, bảo vệ cơ sở. Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Khước và đồng chí Nguyễn Thị Định kiên quyết lãnh đạo cán bộ bám đất bám dân, súc tích lực lượng chờ thời cơ.
- Giai đoạn 1959-1960 (Chuẩn bị và tiến hành Đồng khởi): Dưới ánh sáng Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (mở rộng), Đảng bộ Bến Tre nhanh chóng tổ chức lực lượng, phát động quần chúng nổi dậy mở màn tại ba xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày) ngày 17/1/1960, kết hợp lực lượng vũ trang non trẻ với sức mạnh áp đảo của "Đội quân tóc dài", giải phóng hoàn toàn nhiều vùng nông thôn.
Chương 3. Nhận định, đánh giá về quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng, tiến tới Đồng khởi ở Bến Tre và bài học kinh nghiệm về đấu tranh giữ gìn lực lượng
Chương 3 tổng kết các nhận định khoa học và bài học lịch sử:
- Đánh giá chung: Quá trình đấu tranh giữ gìn lực lượng tại Bến Tre là cuộc thử thách khốc liệt nhất của Đảng bộ và nhân dân địa phương. Việc giữ được 18 chi bộ với 162 đảng viên kiên trung, bảo vệ được mạng lưới cơ sở bí mật và hàng vạn quần chúng nòng cốt trong giai đoạn khủng bố đẫm máu (1954-1959) là tiền đề quyết định tạo nên bước nhảy vọt của phong trào Đồng khởi năm 1960.
- Bài học kinh nghiệm:
- Bài học về bám chắc cơ sở lòng dân: Lấy sự ủng hộ của nhân dân làm chỗ dựa căn bản, xây dựng thế trận "rễ chuối" linh hoạt.
- Bài học về công tác binh vận và nội tuyến: Thực hiện phương châm "chui sâu, trèo cao", vô hiệu hóa bộ máy tề ngụy từ bên trong.
- Bài học về nghệ thuật chỉ đạo và chuyển hóa phương thức đấu tranh: Kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh hợp pháp, nửa hợp pháp và bất hợp pháp; kịp thời chuyển từ đấu tranh chính trị đơn thuần sang chính trị kết hợp vũ trang tự vệ và bạo lực cách mạng.
- Bài học về củng cố tổ chức Đảng và rèn luyện bản lĩnh cán bộ: Giữ vững kỷ luật bí mật, tinh gọn bộ máy lãnh đạo trong hoàn cảnh hiểm nghèo.
Kết quả và đóng góp
Số liệu lịch sử tổng hợp trong văn bản
| Chỉ tiêu / Sự kiện |
Số liệu ghi nhận trong văn bản |
| Ruộng đất cách mạng tạm chia cho nông dân (cuối 1954) |
Hơn 100.000 ha |
| Ruộng đất bị địch cướp lại qua Dụ số 2 và Dụ 57 (từ 1954) |
76.836 mẫu |
| Quy mô cuộc biểu tình mừng hòa bình tại Bình Đại (19/8/1954) |
15.000 người |
| Quy mô cuộc biểu tình chống khủng bố tại Châu Thành (28/8/1954) |
5.000 người |
| Thiệt hại trong vụ thảm sát biểu tình tại Mỏ Cày (13/9/1954) |
11 người chết, 36 người bị thương, 200 người bị bắt |
| Cơ sở nội tuyến trong lòng địch tại Bến Tre (1954-1956) |
Hơn 2.000 cơ sở |
| Mức độ kiểm soát bộ máy địch của ta (1954-1956) |
Khống chế 95% tề xã, 60-80% trong 5 đại đội bảo an |
| Cơ sở giam giữ, kìm kẹp do chính quyền Diệm lập ra |
300 đồn bót, 4 khu trù mật lớn |
| Thiệt hại của nhân dân Bến Tre do địch khủng bố (1954-1959) |
2.519 người bị giết, 17.000 người bị tù đày |
| Tỷ lệ tổn thất cán bộ, đảng viên toàn Nam Bộ (1955-1958) |
Giảm từ 60.000 xuống còn 5.000 đảng viên (mất 9/10) |
| Số lượng tổ chức Đảng và đảng viên Bến Tre (cuối năm 1959) |
Còn 18 chi bộ với 162 đảng viên (trên tổng số >2.000 trước đó) |
Đóng góp khoa học và thực tiễn của khóa luận
- Về khoa học lịch sử: Phục dựng hệ thống, chân thực và toàn diện bức tranh đấu tranh giữ gìn lực lượng của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre trong giai đoạn thoái trào cách mạng (1954-1959) – giai đoạn nền tảng nhưng ít được khảo cứu độc lập so với sự kiện Đồng khởi 1960.
- Về nhận thức lịch sử: Làm sáng tỏ tính sáng tạo, linh hoạt của Tỉnh ủy Bến Tre trong việc vận dụng các chỉ thị của Trung ương, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng mạng lưới "rễ chuối" và phong trào binh vận - nội tuyến hàng đầu Nam Bộ.
- Về thực tiễn sư phạm: Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử địa phương Bến Tre chuẩn xác, phong phú phục vụ trực tiếp cho hoạt động giảng dạy môn Lịch sử tại các trường phổ thông và đại học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài tập trung giới hạn trong phạm vi không gian tỉnh Bến Tre và mốc thời gian 1954-1960; nguồn tư liệu khai thác chủ yếu dựa trên hệ thống văn kiện Đảng, tài liệu tổng kết lịch sử địa phương và hồi ký cách mạng, chưa có điều kiện tiếp cận các tài liệu lưu trữ chi tiết từ phía bộ máy tình báo, quân sự của chính quyền Sài Gòn tại Kiến Hòa.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh mô hình giữ gìn lực lượng và khởi nghĩa từng phần giữa Bến Tre với các tỉnh lân cận thuộc vùng Tây Nam Bộ (Mỹ Tho, Trà Vinh, Vĩnh Long); nghiên cứu sâu hơn về vai trò của phụ nữ và phong trào "Đội quân tóc dài" trong tiến trình phát triển lực lượng giai đoạn 1954-1965.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Giảng viên, giáo viên, sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử học, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; các nhà nghiên cứu lịch sử Nam Bộ và lịch sử địa phương Bến Tre.
- Nội dung đáng tham khảo nhất:
- Mô hình tổ chức mạng lưới bí mật theo hệ thống "rễ chuối" và phương thức phân loại quần chúng, cài cắm nội tuyến (mục 2.1).
- Diễn biến các phong trào đấu tranh chính trị quy mô lớn năm 1954-1956 tại Mỏ Cày, Bình Đại, Châu Thành (mục 2.1).
- Hệ thống 4 bài học kinh nghiệm về công tác giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng trong tình thế hiểm nghèo (mục 3.2).
Câu hỏi thường gặp
1. Mô hình "hệ thống rễ chuối" được Đảng bộ Bến Tre tổ chức và vận hành như thế nào?
Hệ thống "rễ chuối" là cơ chế liên lạc và tổ chức quần chúng bí mật theo nguyên tắc "một người tổ chức và lãnh đạo hai người khác": 1 đảng viên trực tiếp phụ trách 1-3 nòng cốt; 1 nòng cốt nắm 3-5 quần chúng tích cực; 1 quần chúng tích cực tuyên truyền, vận động 5-10 người dân qua quan hệ họ hàng, xóm giềng hoặc làm ăn. Đoàn Thanh niên Lao động phụ trách từ 30-50 quần chúng/đoàn viên. Mô hình này giúp Đảng bám chặt vào dân, giữ vững chỉ đạo thông suốt dù tổ chức công khai bị địch đánh phá.
2. Công tác binh vận và xây dựng cơ sở nội tuyến của Bến Tre giai đoạn 1954-1956 đạt kết quả ra sao?
Bến Tre được Xứ ủy Nam Bộ đánh giá là tỉnh có phong trào binh vận mạnh nhất Nam Bộ (1954-1956) với hơn 2.000 cơ sở cách mạng hoạt động trong lòng địch. Tiêu biểu tại xã Châu Hòa, ta tận dụng chính sách "Công giáo hóa chính quyền" của địch để đưa đảng viên làm ủy viên quân sự xã, dân vệ và nắm 7/8 trưởng ấp. Toàn tỉnh đã thành lập hơn 300 Hội yêu nước trong binh sĩ địch, khống chế 95% tề xã, dân vệ, cảnh sát thị xã và 60-80% lực lượng trong 5 đại đội bảo an.
3. Vụ đàn áp cuộc biểu tình ngày 13/9/1954 tại Mỏ Cày diễn ra thế nào và kết luận của Ủy ban Quốc tế ra sao?
Cuộc biểu tình tự phát bùng phát khi lính bốt Cài Đại đánh anh Đứa vì từ chối đi làm xâu, khiến hàng ngàn dân kéo dài 5km tiến về quận Mỏ Cày đòi bồi thường. Địch xả súng tại ngã ba Thơm làm 11 người chết, 36 người bị thương, bắt 200 người. Tỉnh ủy đã cử cán bộ gặp tổ lưu động của Ủy ban Quốc tế tại Phụng Hiệp để khiếu nại. Khi phái đoàn quốc tế đến Mỏ Cày điều tra, quần chúng đã áp sát trao đơn tố cáo, buộc Ủy ban Quốc tế kết luận lính quận Mỏ Cày vi phạm Hiệp định Genève và buộc địch phải thả người, bồi thường, chữa trị cho người bị thương.
4. Mức độ tổn thất của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bến Tre đến cuối năm 1959 nghiêm trọng ra sao?
Dưới các chiến dịch "Tố cộng, diệt cộng", Luật 10/59 và hoạt động của 4 khu trù mật, từ năm 1954 đến 1959 tại Bến Tre, địch đã giết hại 2.519 người, bỏ tù 17.000 người. Đến cuối năm 1959, Đảng bộ tỉnh Bến Tre chỉ còn lại 18 chi bộ với 162 đảng viên kiên trung (so với trên 2.000 đảng viên trước đó), hơn 90% cơ sở nội tuyến bị lộ và toàn bộ vũ khí chôn giấu bị địch tịch thu.
5. Vì sao Tỉnh ủy Bến Tre lựa chọn phương thức đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang tự vệ trong giai đoạn 1956-1958?
Do tương quan lực lượng lúc này địch chiếm ưu thế tuyệt đối về quân đội và chính quyền, trong khi ta không còn lực lượng vũ trang tập trung sau tập kết. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị (6/1956) và Đề cương cách mạng miền Nam, Tỉnh ủy Bến Tre chỉ đạo thành lập các tổ vũ trang tuyên truyền cấp huyện (2-3 súng) và tự vệ mật cấp xã nhằm mục đích trừ gian diệt ác, tự vệ và bảo vệ cán bộ bám dân, tránh phiêu lưu quân sự nhưng không thủ tiêu đấu tranh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhi đã phục dựng một cách có hệ thống và khoa học tiến trình đấu tranh giữ gìn lực lượng cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Bến Tre giai đoạn 1954-1960. Công trình làm rõ nghệ thuật bám dân qua hệ thống "rễ chuối", công tác nội tuyến - binh vận và sự chuyển hướng linh hoạt từ đấu tranh chính trị sang khởi nghĩa từng phần. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phương và giảng dạy chuyên ngành Sư phạm Lịch sử.