Chương 1. Khái quát bối cảnh phong trào đấu tranh chỗng Mỹ - Diệm của nhân dan tinh Bên Tre (1954-1960). Khóa luận trình bay về sơ nét bối cảnh trong và ngoài nước có ảnh hưởng đến quá trình đấu tranh chong chính quyền Mỹ - Diệm của nhân dan tỉnh Bến Tre; vùng đất, con người tại Bến Tre va lịch sử dau tranh của nhân din trước năm 1954. Ở phan nay, tác giả cũng dé cập vẻ quá trình chính quyền Mỹ-Diệm đàn áp, khủng bố nhân dân Bến Tre vào giai đoạn từ năm 1954 đến trước phong trào Đông khởi năm 1960.
Quá trình Dau tranh giữ gìn lực lượng tiến tới đồng khởi giành thắng lợi ở Bến tre (1954-1960). Ở phan này, tác giả nghiên cứu về quá trình chuẩn bị lực § lượng và đấu tranh chính trị chống chính quyền Mỹ-Diệm của Dáng bộ và nhân dân Bến Tre và việc Tinh ủy Bến Tre thực hiện theo những chủ trương từ Nghị quyết trung ương lần thứ 15 (mở rộng) của Đảng Lao động Việt Nam và lãnh đạo nhân dân thực hiện cuộc Đồng khởi và giành được thắng lợi to lớn. Đánh giá về quá trình chuẩn bị lực lượng. tiến tới Đồng khởi ở Bến Tre và bài học kinh nghiệm.
Ở chương 3, tác giả trình bày những đánh giá về quá trình chuẩn bị lực lượng. tiến tới Đồng khởi ở Bến Tre từ đó, đưa ra một số bài học kinh nghiệm về giai đoạn này. KHÁI QUÁT BOI CANH HÌNH THÀNH PHONG TRAO DAU TRANH CHÓNG MỸ - DIEM CUA NHÂN DAN TINH BEN TRE (1954- 1960) 1. Đặc điểm, tình hình tinh Bến Tre trước phong trào Đồng khởi (năm 1960) 1.
Dia lý và con người Vẻ tên gọi, có nhiều cách giải thích của các tác giả về tên gọi Bến Tre: Theo sách Tính Bến Tre trong lịch sứ Việt Nam (từ năm 1757 đến 1945) của tac giả Nguyễn Duy Oanh (1971), tác giả đưa ra hai lý do về nguồn góc tên gọi Bến Tre: Thứ nhất, Bến Tre là một vùng đất của người Khmer có tên gọi là Shor Tréy hay Trây (Sốc tre) thuộc vùng đất của Thủy chân lạp. Từ Shor Tréy có nghĩa là vùng có nhiều tre. Trước đây, vùng dat này có nhiều con giỏng (đất cao) và có nhiều tre mọc um tim. Vì có nhiều tre nên nơi đây đã thu hút nhiều ghe thuyền ghé đến chở tre nên gọi là Bến Tre.
chúa Nguyễn Phúc Khoát cho sát nhập vùng đất Bến Tre vào dinh Long Hỗ tức cho vùng đất này sáp nhập vào bản đồ nước Nam. Chúa cho xây dựng một trạm kiêm soát thuyền buôn bán trên sông ở cầu Cá Lóc (hữu ngạn rạch Bến Tre) và cho thu thuế các thuyền qua lại, trạm này được gọi là Bến thuế. Do đó, người ta cho rằng tên gọi Bên Tre được hình thành do cách gọi tắt của cụm từ “Bén thuế và Sốc tre” (Nguyễn Duy Oanh, 1971, tr. Trong sách Người Bến Tre của tác giả Lê Minh Quốc , cũng có đưa ra dẫn chứng của các tập sách Géographie physique, économique et historique de la Cochinchine do Hội Nghiên cứu Đông Dương chủ trương, giải thích tên gọi Bến Tre như sau: “Bén Tre ngày trước được người Cam bồi gọi là Sóc tre (xử tre) vì có nhiều “giong” phi tre rải rác trong tinh.
Vé sau người An Nam lập nén một cái chợ mà họ gọi là Bến Tre” (Lê Minh Quốc, 2020, tr. Tuy nhiên, đến ngày nay thì nguồn gốc tên gọi Bên Tre vẫn chưa thông nhất và được các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu, lý giải. Lich sử hình thành và phát triển của Bến Tre gắn liền với khu vực Đồng Nai- Gia Đinh - Cửu Long. Trước khi sáp nhập vào lãnh thé nước Nam, Bến Tre 1a vùng đất hoang vu, thuộc Thủy chân lap.
Chu Đạt Quan (sứ thần Trung Quốc) sau chuyền đi sử sang Chân Lạp vào những năm 1896-1897 có nhận xét vùng đất Nam Bộ như sau: Sau khi tiên vào Chen-pu (Chan Bỏ)Í, vùng biên cương của Căm Bot, không ' Vùng đất thuộc Ba Rịa - Vũng Tau ngày nay. 10 có gì ngoài lim cây ram rạp của các cánh rừng thấp; các vũng cửa sông rộng lớn của con sông uy mãnh, dai hàng trăm dam, cháy xuyên qua bóng tôi âm u của một khu rừng có cây coi già cối và cây day vươn cao.} Sau đó đến các luong tre kéo dai đến hàng trăm dặm khác. Thân của loại tre này có các gai nhọn và các dot măng của chủng có vụ rất chua chát. Núi cao hiện ra ở chân trời bốn hưởng (Chu Đạt Quan.
Theo nhận xét của Chu Đạt Quan thì trước đây vùng đất Bén Tre là vùng hoang vu, đầy bụi rậm. Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều loài thú dữ. Đến đây xứ sở lạ lùng Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh Chèo ghe sợ sấu cắn chun Xung sông sợ dia, lên rừng cop um (ca dao) Các đời chúa Nguyễn khuyến khích nhân dân thực hiện cuộc Nam tiến, di chuyên vẻ vùng đất phía nam đẻ khai phá và định cư nhằm mục đích mở rộng lãnh thô dan tộc. Những người Việt ở miền Trung theo lời kêu gọi của Chúa Nguyễn đã tiền vào Nam dé sinh sống.
Các đời vua trước đã nỗ lực dé khai khan vùng đất phía Nam, tuy nhiên vẫn còn nhiều vùng chưa nắm giữ được. chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp tục thực hiện công cuộc Nam tiền. Từ thời chúa Nguyễn đến nay, Bến Tre đã có nhiều lan phân lại về hành chính, địa giới, địa lý và tên gọi. Cuối củng, tỉnh Bến Tre là tên gọi được sử dụng đến ngày nay gồm 3 cù lao: cù lao Bao, cù lao Minh và cù lao An Hóa.
Xin xem thêm “7ên gọi phan đất Bén Tre qua các giai đoạn ” tại phụ lục 2. Bên Tre là một trong mười ba tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi ba củ lao lớn: cù lao An Hóa, cù lao Bảo và củ lao Minh. Nơi day được bôi sa bôi tụ từ bốn nhánh sông Cửu Long gồm sông Tiền, sông Ba Lai. sông Ham Luông và sông Cô Chiên.
Nhìn trên bản 46 Việt Nam, lãnh thé Bến Tre có hình rẻ quạt. Bến Tre giáp với tinh Tiền Giang ở phía Bac, lay sông Tiền làm ranh giới chung; giáp với Vinh Long và Tra Vinh ở phía tây và nam, lấy sông Cô chiên làm ranh giới chung: giáp với biên Đông ở hướng Đông với đường bờ biên dài 65km. Có điểm cực nam nằm ở vĩ độ 9°48" bắc, cực bắc nằm ở vĩ độ 10°20° bắc, cực dong nim trên kinh độ 110648" đông và cực tây năm trên kinh độ 105957" đông. Bến Tre giáp 1] biển Dông, cách thành phố Hồ Chi Minh hơn 80km về phía Tây Nam (Ban chap hành Dang bộ tỉnh Bến Tre, 2017, tr.
Bên Tre có khí hậu nhiệt đới, địa hình bằng phẳng, chịu ảnh hưởng của gió mùa, mỗi năm có hai mùa nắng va mùa mưa. Vùng đất này được bao bọc bởi những con sông lớn như sông Tiên, sông Ba Lai, sông Ham Luông. và nhiêu kinh. Sông ngòi cung cấp lượng phù sa đồi đào cung cấp cho đất đai màu mỡ.
Nơi đây không có rừng lớn, rừng giả, chỉ có rừng ngập mặn. Nguyễn Xuân Năng (2019) từng nhận xét rằng: “Rimg ở đáy có thé “che bộ đội, vay quân thi” nhưng khó có thể tạo dựng được căn cứ địa lâu đời để xây dung lực lượng vũ trang tập trung nào cho tổ chức ” (Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Tinh ủy Bến Tre. Hệ thong đường bộ khá chang chit với các đường liên tinh, liên huyện. Hệ thống đường thủy, đường bộ khiến Bến Tre trong chiến tranh dé bị dịch chia cắt, phong tỏa, gây khó khan trong việc chỉ viện, tiếp tế và chuyền quân.
Tuy nhiên, dựa vào địa hình này cùng với các yếu tô thuận lợi của tự nhiên đã giúp nhân dân Bến Tre có được những thắng lợi vang đội trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Theo bài Tông kết của Đại tướng Hoàng Văn Thái (2008) đã từng nhận định rằng: Bên Tre là một tinh năm trong vùng tam giác châu thé sông Cửu Long, cùng với Vinh Long và Trà Vinh, hình thành dia bàn bản l quan trọng của chiến trường Nam Bộ. Qua hai lan kháng chiến chong Pháp và chong Mỹ tính chất địa bàn bản lẻ đó càng nổi lên rõ rệt”, “có địa hình sông rạch chẳng chit, hiểm trở, rất thuận lợi cho chiến tranh nhân dan (Tinh uy Bến Tre, 2008, tr. Từ thé kỷ XVIII, có nhiều lưu dân người Việt sinh sống trên đất cù lao.
Sau nhiều đợt chuyền cư liên tục trong giai đoạn thé kỷ XVII đến giữ thé ky XVIII, Bên Tre đã có nhiều người dân đến ở. Vùng đất Bến Tre xưa kia thuộc Thủy chân lạp của người Cao Miên cho nên nơi đây có người Cao Miên sinh sống.000 quân Minh không chịu khuất phục nha Thanh đã kéo nhau đến vùng Thuận Hóa xin trú ngụ và được chúa Nguyễn Phúc Tan (chúa Hiền) đồng ý (Thạch Phương va Doan Tử, 2001, tr. Họ được chúa cho vảo vùng đất Đông Phố vì chúa muốn họ khai khan nơi đây. Quan Minh chia làm hai nhóm khai khan hai vùng đất gòm Lộc Da (Đồng Nai thuộc tỉnh Biên Hòa ngày nay) va vùng Mỹ Tho (Dinh Tường).
Củ lao An Hóa trước kia thuộc tỉnh Mỹ Tho được quân Minh đến khai khan, còn vùng đất thuộc cù lao Bảo và cù lao Minh không trực tiếp được khai khan nhưng cũng có một sé ít người Minh đến vi nơi nay cách củ lao An Hóa không xa. Họ cho lập ra phường, phố. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh định đất Đông Nai, lập phủ Gia Định, lúc nảy, đân cư đã có bốn vạn hộ, đất đai hàng ngàn dặm kéo đài từ Mỗi Xuy (vùng Bà Rịa - Biên Hòa) đến bờ bắc sông Tiền (Ban chấp hành Đảng bộ tinh Bến Tre, 2017, tr. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu thì dan cư hai bên bờ sông Tiền đã khá đông đúc: Qua nghiên cứu tư liệu cho thay, lưu din đến các vùng phía trên dau cù lao phần lớn có nguon gốc từ Quang Tri, Quang Binh trở ra.
Con lưu dan đến các vùng ven sông, ven biển - giữa và cuối đất cù lao - thì số đông là người từ các tinh Nam - Nghĩa - Bình - Phủ (Quang Nam, Quang Ngãi, Quang Bình, Phú Yên) vượt biển vào hoặc chuyền ew từ Ba Ria, Go Công và mot số điểm rung chuyển khác đến (Ban chấp hành Dang bộ tinh Bên Tre, 2017, tr. Sau khi ba tỉnh miền Tây Nam kì bị rơi vào tay Pháp. được sự đồng ý của chính phú Pháp, người Trung Quốc cũng đến nước ta lập nghiệp buôn bán.