phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng I: Tiểu thuyết lịch sử và vài nét về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Trƣờng Thanh Chƣơng II: Nguồn cảm hứng mãnh liệt từ mảnh đất Lạng Sơn xinh đẹp, giầu kỳ tích lịch sử Chƣơng III: Một số đặc điểm nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Trƣờng Thanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I TIỂU THYẾT LỊCH SỬ VÀ VÀI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ CỦA NGUYỄN TRƢỜNG THANH 1. Khái niệm tiểu thuyết lịch sử Bàn về khái niệm tiểu thuyết lịch sử - hiện nay trên thế giới đang tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau do có những quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử, về cách viết truyện lịch sử. Tuy nhiên người ta vẫn có thể thấy rõ 2 quan niệm chính về tiểu thuyết lịch sử như sau: Quan niệm thứ nhất: Tiểu thuyết lịch sử phải tôn trọng sự kiện lịch sử, từ đó hư cấu tạo thành tác phẩm; quan niệm thứ hai là: Tiểu thuyết lịch sử không coi trọng sự thật lịch sử, lịch sử chỉ là cái cớ để viết tiểu thuyết mà thôi! Có thể xếp hầu hết các tiểu thuyết lịch sử cổ điển của Trung Quốc vào trường phái thứ nhất, dẫu tỉ lệ sự thật lịch sử và tỉ lệ hư cấu có màu sắc đậm nhạt khác nhau (Ví dụ như: Tiểu thuyết lịch sử Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung theo tỉ lệ “bảy thực ba hư” như chính tác giả tuyên bố; còn tác phẩm Thuỷ hử của Ngô Thừa Ân thì phần hư cấu nhiều hơn, có lẽ là “ba thực bảy hư”!, nhưng cũng có người coi cuốn Pie Đại đế của nhà văn Nga Alecxeei Toolxtoi thuộc loại tiểu thuyết tôn trọng sự thật lịch sử, còn tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa thì thuộc loại tiểu thuyết viết theo nhãn quan chính trị chính thống của thời đại mà tác giả đang sống). Điển hình cho trường phái tiểu thuyết lịch sử thứ hai đã nói ở trên là nhà văn Pháp Alexandre Dumas (cha) với những tác phẩm Ba chàng ngự lâm pháo thủ, Hoàng hậu Margo.
Chính Dumas từng nói: “Lịch sử là cái đinh, ở đó tôi treo móc những bức tranh của tôi”. Đi xa hơn nữa là lối viết dựa vào các sự kiện lịch sử, nhưng làm nó biến dạng hẳn đi, đó là các tiểu thuyết dã sử, tiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 thuyết kiếm hiệp,. Với quan điểm như Dumas và các nhà viết truyện kiếm hiệp, có lẽ không nên xếp tác phẩm của họ vào loại tiểu thuyết lịch sử, vì cái gọi là lịch sử trong đó không thể tin cậy, với những người ít hiểu biết, thứ “lịch sử” đó thậm chí còn làm nguy hại tới nhận thức của họ. Như vậy, chỉ nên coi những truyện thuộc loại coi trọng sự thật lịch sử là tiểu thuyết lịch sử đích thực, bởi ở đó, nhà văn tái tạo lịch sử và với chân dung nhân vật vốn đã định hình một cách trung thực theo quan điểm lịch sử và sự hư cấu nghệ thuật không thể đi quá giới hạn cho phép.
Tiểu thuyết lịch sử được giáo sư người Pháp Dorothy Brevvster và Jonh Bureell trình bày như sau: “Những chuyện đó chỉ là những tiểu thuyết về quá khứ, và chỉ vì nhân nhượng mà tên gọi là tiểu thuyết lịch sử. Gọi theo tên hiệu này hay tên hiệu khác tùy thuộc vào các nhà phê bình định nghĩa, đọc và ưu thích (hay chán ghét) chúng. Vì khi thích một cuốn truyện nào thì nhà phê bình thường muốn đưa nó vào một loại văn học có danh”[6. Như vậy theo quan niệm này tiểu thuyết lịch sử trước tiên là tiểu thuyết viết về quá khứ của một dân tộc, quốc gia nào đó.
Và điều quan trọng là tiểu thuyết này phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người phê bình muốn xếp nó vào loại nào. Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) thì thể loại lịch sử/tiểu thuyết lịch sử được quan niệm: “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy. Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này”. 255] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 Như vậy, chúng ta có thể thấy rất rõ rằng: Tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật.
Ở đây, tác giả dựa vào những sự kiện trong quá khứ, hư cấu, tưởng tượng thêm để sáng tạo nên tác phẩm nhằm gây hứng thú cho người đọc. Tiểu thuyết lịch sử tuy mượn đề tài và lấy cảm hứng từ lịch sử nhưng không hề né tránh, xa vời với nhiệm vụ thực tại, thời thế hiện tại. Đúng như Biêlinxki đã khẳng định: Chúng ta hỏi và chúng ta chất vấn những cái đã qua để chúng ta giải thích cho hiện tại và chỉ ra tương lai của chúng ta. Tuy nhiên, mặc dầu lấy những sự kiện những nhân vật trong lịch sử, nhưng các tác giả của tiểu thuyết lịch sử không chỉ trình bày trong cái tư thế lịch sử - mà còn cho chúng ta biết nhiều mặt khác của đời sống con người, thậm chí cả những mặt sinh hoạt mang tính đời tư của nhân vật.
Do đặc trưng của thể loại tiểu thuyết nên quan niệm về tiểu thuyết lịch sử cũng rất phong phú, linh hoạt, mỗi quan niệm thường nhấn mạnh vào một đặc điểm nào đó của thể loại. Có thể dẫn ra một số quan niệm tiêu biểu sau: Alexandre Dumas, một nhà tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng nước Pháp cho rằng “Lịch sử đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi”. Ở đây Dumas coi sự kiện lịch sử chỉ là phương tiện để nhà văn viết tiểu thuyết gửi gắm tình cảm riêng của mình. Lucacs, nhà tiểu thuyết lịch sử của Hunggari lại khẳng định: “Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là chứng minh sự tồn tại của một hoàn cảnh và nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” [7].
Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ của hư cấu, sáng tạo của nghệ thuật” [8. Quan niệm này nhấn mạnh mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tác phẩm tiểu thuyết lịch sử. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 Như vậy, cho đến nay quan niệm về tiểu thuyết lịch sử vẫn chưa thống nhất. Người ta vẫn tranh luận về các vấn đề: sự thực lịch sử và hư cấu; độ lùi quá khứ ở lức độ nào, là quá khứ còn đọng lại trong kí ức người đương thời hay kí ức chỉ còn đọng lại trong huyền thoại, thần thoại?.Song, mỗi quan niệm dù nhấn mạnh vào khía cạnh khác nhau của thể loại, chung quy vẫn đề cập đến yếu tố lịch sử và yếu tố tiểu thuyết - hạt nhân cốt lõi trong tiểu thuyết lịch sử.
Và như vậy, có thể nói: Tiểu thuyết lịch sử là loại hình tiểu thuyết lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính. Đối tượng của nó là nhân vật, sự kiện, thời kỳ hay tiến trình lịch sử. Đó có thể là quá khứ xa xôi hay một thời kỳ lịch sử đặc biệt. Nó đòi hỏi người viết vừa phải có kiến thức uyên bác, tỉ mỉ của một nhà sử học, lại vừa phải có khả năng sáng tạo văn học.
Có thể kể đến những cuốn tiểu thuyết lịch sử Việt Nam tiêu biểu như: Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô Gia Văn Phái); Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu); Vua Hàm Nghi, Vua Quang Trung (Phan Trần Chúc); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám (Ngô Tất Tố); Ai lên phố Cát (Lan Khai); Việt Nam Lý Thường Kiệt (Phạm Minh Kiên); Rồng đá chuyển mình, Chuyện tình Dương Vân Nga (Hoài Anh); Tướng quân Nguyễn Chích (Hà Ân); Bà Triệu (Hàn Thế Dũng); Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh); Mạc Đăng Dung (Lưu Văn Khuê)…Qua việc nêu tên các cuốn tiểu thuyết lịch sử này, chúng ta có thể khẳng định rằng: Trong đời sống văn học nước nhà, thể loại tiểu thuyết lịch sử đã từng xuất hiện và đã có những thành tựu đáng khẳng định. Văn học Lạng Sơn và tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Trƣờng Thanh 1. Vài nét khái quát về văn học Lạng Sơn Như ta đã biết, Lạng Sơn là một tỉnh biên giới vùng miền núi phía Bắc có bề dày lịch sử dựng nước, giữ nước và có nền văn hóa truyền thống lâu đời, đậm đà bản sắc dân tộc. Tuy nhiên mảng văn học thành văn của Lạng Sơn từ xa xưa để lại không nhiều.
Theo khảo sát của chúng tôi những tư liệu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 còn được lưu giữ được về văn học xứ Lạng còn rất mỏng. Đó chủ yếu là một số bài thơ, bài ký viết bằng chữ Hán, hoặc chữ Nôm của các vị Sứ thần triều đình đi sứ sang Trung Quốc qua Lạng Sơn, cảm tác trước cảnh đẹp và lịch sử hào hùng của xứ Lạng mà viết nên. Trong đó đáng lưu ý có một số bài thơ, bài ký của các tác giả như: Trần Nhân Tông (1258-1308), Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370), Phạm Sư Mạnh (Thế kỷ XIV), Trần Minh Tông (1300- 1357), Phùng Khắc Khoan (1528-1613)…Đặc biệt là các bài thơ, bài ký của các tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì viết về Lạng Sơn như: Ngô Thì Sỹ (1726- 1780) làm quan Đốc trấn Lạng Sơn (1777-1780) đã có nhiều bài thơ, bài ký khắc trên đá trong động Nhị Thanh, Tam Thanh, Chùa Tiên và một vài nơi khác ở Tràng Định, Văn Lãng; Ngô Thì Nhậm (1745-1803) - con trai của Ngô Thì Sỹ (đi sứ dưới triều Tây Sơn); Ngô Thì Vị (còn gọi là Ngô Thì Hương 1774-1821) - con trai út của Ngô Thì Sĩ, dưới thời Nguyễn làm quan Hiệp trấn Lạng Sơn (cũng hai lần đi sứ Trung Quốc).