Chương 1: TIỀN ĐỀ THÚC ĐẨY NGƯỜI NHẬT BẢN DI CƯ ĐẾN MỸ TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XX 1.1 Nguyên nhân thúc đẩy người Nhật Bản di cư Những vấn đề chính trị, kinh tế- xã hội và chính sách khuyến khích người lao động xuất cư của Chính phủ Nhật Bản Đến giữa thế kỷ XIX về đối ngoại, Nhật Bản vẫn thực hiện chính sách đóng cửa với các nước. Trong khi đó, sự phát triển của CNTB với nhu cầu cao về thị trường, nguyên nhiên liệu và nhân công đã đặt ra yêu cầu mở cửa giao thương đối với Nhật Bản.Trong nước tình hình chính trị căng thẳng. Từ năm 1868 Thiên Hoàng Minh Trị đã thực hiện cuộc cải cách toàn diện theo mô hình của các nước phương Tây. Tuy nhiên do sự gia tăng về dân số Chính phủ đã có chính sách khuyến khích người lao động xuất cư ra nước ngoài.
Xuất cư trở thành một biện pháp khả thi cho việc tháo gỡ các vấn đề chính trị, xã hội và kinh tế.Như vậy, nguyên nhân chính của hoạt động di cư từ cuối thế kỉ XIX là nhu cầu về kinh tế trong bối cảnh dân số Nhật tăng nhanh chóng. Ngoài ra, người Nhật di cư còn xuất phát từ một số yếu tố như: tìm kiếm môi trường giáo dục tốt, nghiên cứu khoa học, đoàn tụ gia đình, tị nạn chính trị,… Về giáo dục, với tư tưởng “Học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây”. Cho dù tài chính còn eo hẹp nhưng chính phủ đã xây dựng nhiều trường học, cử người ra nước ngoài học tập.Điều này cho thấy, nhu cầu về giáo dục chính là một trong những nguyên nhân thúc đẩy người Nhật di chuyển ra bên ngoài, đặc biệt là đến nước Mỹ. Sự phát triển của các công ty vận tải hàng hải: sự phát triển của ngành giao thông hàng hải.
Sự xuất hiện và phát triển của các công ty vận tải hàng hải gắn liền với sự phát triển của quá trình xuất cư của người Nhật. Có thể nói, nguyên nhân khiến người Nhật Bản rời quê hương có rất nhiều: áp lực về chính trị, cơ hội kinh tế giảm, bùng nổ dân số, nạn đói, hạn hán,…Dù nguyên nhân thúc đẩy họ là gì đi chăng nữa thì động cơ lôi kéo họ đến Mỹ chính là sự hứa hẹn về một khởi đầu tốt đẹp. Về phía chính phủ Minh Trị cũng xác định việc thúc đẩy xuất cư không chỉ là biện pháp giải quyết nạn đói mà còn là một cách thu hút ngoại tệ thông qua con đường kiều hối để làm giàu và tăng cường sức mạnh quân sự. Chính phủ cũng trông đợi những người trở về từ các nơi trên thế giới sẽ mang theo kiến thức mới về kinh tế, khoa học kĩ thuật để thúc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa đất nước [63,tr.
Nguyên nhân thu hút người Nhật Bản nhập cư vào Mỹ Sau cuộc cải cách Minh Trị, trong khi Nhật Bản là nước dư thừa lao động thì nhu cầu lao động ở châu Mỹ nói chung và nước Mỹ nói riêng lại tăng cao cùng với tốc độ phát triển kinh tế. Nền kinh tế phát triển đòi hỏi nguồn lao động lớn. Đó là lí do vì sao, nước Mỹ trở thành “điểm đến” của nhiều nhóm lao động đến từ châu Âu, châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh. Nhu cầu về nguồn lao động ở Hawaii Từ những năm 60 của thế kỉ XIX, sự chuyển đổi kinh tế đã diễn ra tại Hawaii với sự phát triển của ngành trồng mía, sản xuất đường.Trong khi đó, tỉ lệ dân bản địa tại đây có xu hướng giảm mạnh từ cuối thế kỉ XIX.
Sự suy giảm tỉ lệ dân bản địa và người di cư từ các nước châu Âu đã đẩy nền kinh tế vào tình trạng khó khăn do thiếu lao động. Các chủ đồn điền ở Hawaii tin rằng: người Nhật sẽ dễ đồng hóa với người bản địa [53, tr.Năm 1898, quần đảo Hawaii sáp nhập vào lãnh thổ nước Mỹ. Sự kiện này đã tác động đến những người lao động nhập cư. Nhu cầu về nguồn lao động, sức hấp dẫn của môi trường học tập và nghiên cứu ở các bang lục địa nước Mỹ Chính phủ Mỹ có chính sách thu hút nguồn lao động di cư từ bên ngoài để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Trong cùng thời kỳ lịch sử, không có quốc gia nào có chính sách nhập cư tương tự như Đạo luật 1802 của Mỹ. Vậy, nguyên nhân của sự “cởi mở” trong chính sách đối với người nhập cư của chính phủ Mỹ là gì? Năm 1848, “cơn sốt vàng” ở đây đã kích thích làn sóng di cư mạnh mẽ từ bên ngoài,vùng bờ biển phía Tây nước Mỹ phát triển nhanh chóng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguồn nhân lực, các nhà công nghiệp và các chủ đồn điền đã sử dụng lao động Trung Quốc. Tuy nhiên, việc tăng nhanh số lượng lao động Trung Quốc dẫn đến xu thế bài trừ người Trung Quốc một cách bạo lực, trong khi nhu cầu về lao động vẫn tăng nên các nhà công nghiệp và chủ trang trại đã tìm kiếm để thay thế cho những người nhập cư Trung Quốc và đây là một yếu tố tạo điều kiện cho người Nhật Bản nhập cư vào Mỹ.
Đầu thế kỉ XX, đặc biệt là sau sự kiện Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), Mỹ vươn lên đứng đầu thế giới.Dù trải qua thời kỳ khủng hoảng, suy thoái trầm trọng trong những năm 1929 - 1933 song nền kinh tế Mỹ vẫn là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Như vậy, lý do cơ bản nhất chính là nhu cầu phát triển của đất nước. Mỹ là quốc gia rộng lớn, dân số ít, mật độ dân số thấp. Muốn khai thác diện tích đất đai và khai thác các nguồn lực tự nhiên khác, chính phủ cần tăng nguồn lao động.
Vì vậy, lượng người di cư tới đây sẽ giúp lấp đầy những “khoảng trống” đó.Kỹ năng, nguồn vốn của họ sẽ góp phần khai thác các tiềm lực sẵn có. Ngược lại, nền kinh tế lớn và năng động sẽ tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động. Không những vậy, Mỹ còn là một quốc gia có nền giáo dục phát triển, có chính sách thu hút bộ phận trí thức có trình độ cao, khoa học kĩ thuật phát triển. Bên cạnh hai lực hút cơ bản nói trên, mối quan hệ thương mại, ngoại giao giữa hai nước Mỹ- Nhật Bản có sự phát triển đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất định cho quá trình di cư từ Nhật sang Mỹ.
NHỮNG THĂNG TRẦM TRONG QUÁ TRÌNH NHẬP CƯ CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN VÀO MỸ TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XX 2. Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1907 Từ 1868 đến 1884: Hoạt động di cư bị chính phủ hạn chế. Từ 1884 đến 1907: Chính phủ khuyến khích và tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động di cư nên số lượng di cư tăng nhanh. Đặc điểm: nam giới, thể chất tốt, lao động tay chân, đến từ phía tây nam Nhật Bản, làm trong nông nghiệp, cư trú tạm thời tại Mỹ.
Người Nhật phải đối mặt với vấn đề “phân biệt chủng tộc”: bài trừ, tẩy chay người gốc Nhật. Vì vậy, Hiệp ước Gentleman 1907 ký kết giữa Chính phủ Mỹ và Nhật. Nội dung cơ bản của hiệp ước này là: chấm dứt sự nhập cư của người lao động Nhật đến Mỹ bằng cách hạn chế cấp hộ chiếu cho người dân. Đối tượng cấp hộ chiếu bị giới hạn gồm: những người lao động quay trở lại Mỹ hoặc cha mẹ, vợ của những người đang sinh sống và cư trú tại Mỹ.
Giai đoạn từ năm 1908 đến năm 1941 Hiệp ước Gentleman 1907, Luật nhập cư 1924 đã tác động sâu sắc đến hoạt động di cư và cộng đồng người gốc Nhật:Số lượng di cư: không nhiều; Chủ yếu là nữ giới (“Cô dâu qua ảnh”); Tỷ lệ nữ và trẻ em tăng trong cộng đồng; Nhận thức: xác định định cư lâu dài; Cấu trúc tuổi và vai trò của thế hệ Isei, Nissei thay đổi; Nghề nghiệp có trình độ cao hơn; Xu hướng rời nước Mỹ tăng. Giai đoạn từ năm 1942 đến năm 1945 Xuất phát từ sự kiện Trân Châu 1941; nghi ngờ lòng trung thành của người gốc Nhật; người gốc Nhật tập trung đông ở bờ Tây; các cuộc bạo động chống người gốc Nhật tăng. Vì vậy,chính sách của chính phủ Mỹ đối với cộng đồng người Mỹ gốc Nhật: chương trình di tản và đưa vào trong các trung tâm “tái định cư” ở các bang bờ Tây nước Mỹ.1942, Tổng thống ban hành Lệnh 9066, chính thức thực hiện di tản. Việc thực hiện di tản tự nguyện khỏi khu vực hạn chế không đạt được nhiều kết quả.
Đó là lý do phía Bộ Chiến tranh và Tư lệnh quốc phòng ở phía tây đã đề xuất chương trình di tản bắt buộc. Từ ngày 29 tháng 3, di tản bắt buộc bắt đầu được thực hiện, 99 khu vực di tản được thành lập ở khu quân sự số 1 và sau đó có thêm 9 khu vực đặc biệt [29, tr. Tháng 6, California là khu vực cấm tại khu quân sự số 2. Từ Công lệnh thứ nhất đến Công lệnh thứ 4 trong năm 1942, chương trình di tản đã chuyển từ “tự nguyện” sang bắt buộc.
Với chính sách này, có thể nói cộng đồng người Mỹ gốc Nhật đã bị cô lập khỏi các cộng đồng khác ở Mỹ thông qua quá trình di tản và sống trong các trung tâm tái định cư. Chương 3: CUỘC SỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN NHẬP CƯ TẠI MỸ TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XX 3. Cuộc sống của người Nhật Bản tại Mỹ từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX. Về Địa bàn phân bố của người Nhật tại Mỹ Cùng với cộng đồng người Trung Quốc và Philippines, người Nhật là một trong những cộng đồng lớn gốc châu Á tại Mỹ.
Năm 1868, nhóm người Nhật di cư đầu tiên đến Hawaii và một năm sau đó họ bắt đầu tới lục địa của nước Mỹ. Năm 1900, số người Nhật trên toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ là 85.437 người [60, tr. Khu vực tập trung đông người Nhật nhất là Hawaii. Trên lục địa nước Mỹ, năm 1900, số người Nhật là 24.326 người [76, tr.
Cũng tại thời điểm này, số người Trung Quốc tại Mỹ là 89.863 người [34, tr. Có thể thấy sự chênh lệch lớn về số lượng của hai cộng đồng người Nhật và Trung Quốc trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX. Tuy nhiên, số lượng người Nhật di cư đã tăng lên nhanh chóng so với người Trung Quốc.927 (chiếm 96%) người Nhật cư trú tại các bang phía Tây nước Mỹ; Trong Đó, riêng bốn bang là: California, Washington, Oregon và Arizona có số người Nhật định cư là 113.035 người (chiếm 89,7 %) [80, tr.