ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LỊCH SỬ THẾ GIỚI CỔ TRUNG ĐẠI ĐỀ TÀI : LỊCH SỬ NHẬT BẢN TRUNG ĐẠI GIẢNG VIÊN: TS. NGUYỄN NHẬT LINH SINH VIÊN: NGUYỄN THANH TÙNG TÒNG ĐỨC THUẬN - TRẦN THỊ TUYẾT MAI HÀ NỘI - 2023 I.ĐỊA LÝ VÀ DÂN CƯ 1.Địa lý -Nhật Bản là 1 đất nước hải đảo với gần 4000 hòn đảo lớn nhỏ, nằm trải theo hình vòng cung dọc bờ biển phía đông lục địa châu Á, thuộc khu vực Đông Á. -Được tạo thành từ nhiều đảo, trong đó có 4 đảo lớn : Hônsư (Bản Châu), Hôcaiđô (Bắc hải đảo), Kiusư (Cửu Châu) và Sicôcư (Tứ Quốc). -Do được hợp thành bởi các đảo nên Nhật có nhiều bờ biển với nhiều hải cảng tốt.
-Phần lớn diện tích là đồi núi và cao nguyên. -Chỉ 15% diện tích đất đai toàn quốc canh tác được. -Tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, nhất là khoáng sản. -Nhiều thiên tai như động đất, núi lửa, não lớn Ý nghĩa : -Đảm bảo tính độc lập và sự tự chủ của đất nước trong quá trình phát triển lịch sử.
-Thúc đẩy sự phát triển thủ công nghiệp và thương nghiệp hàng hải. -Tạo điều kiện cho sự giao thoa văn hóa -Bảo vệ quốc gia khỏi các cuộc xâm lược.Dân cư -Từ thời đồ đá cũ đã có cư dân sinh sống trên quần đảo, có lẽ là người Ainu - 1 tộc người hiện đang sống ở những miền núi lạnh lẽo của đảo Hôcaiđô, với phong tục và ngôn ngữ riêng. Hình ảnh dân tộc Ainu( Nhật Bản) -Vào thời đá mới, có những tộc người từ miền thảo nguyên Bắc Á và từ các đảo ở Nam Thái Bình Dương đến định cư tại Nhật. Họ dồn đẩy người Ainu lên phía bắc, rồi dần sống hoà trộn với nhau, tạo nên chủ thể của dân tộc Nhật.
-Dấu vết, di tích thời đại: +Cho đến nay người ta tìm thấy rất ít dấu vết về thời đại đá cũ ở Nhật. +Những di tích về thời đại đá mới thì phát hiện nhiều, và được các nhà nghiên cứu phân biệt thành hai loại hình chính. Văn hoá Jomon (3000tr.CN) -Đồ gốm được chế tạo thô sơ bằng tay và có đặc trưng trang trí là từng dải văn xoắn thừng. Đồ gốm Jomon và Yayoi được tìm thấy ở các di chỉ thời đại đá mới trên khắp nước Nhật, nhưng đồ gốm Jomon thì thấy nhiều hơn ở miền Đông.
-Về kĩ thuật, Jomon kém Yayôi, nhưng về nghệ thuật lại hơn, bởi những hoa văn tự do và hình dáng khá đa dạng. -Đồ đá trong nền văn hoá Jomon cũng ở trình độ cao hơn đổ đá trong nền văn hoá Yayôi. - Những di tích vật chất phát hiện được bao gồm các đồ đá, đồ đất nung, những đống vỏ sò có lẫn xương cá, xương hươu,. cùng những dụng cụ săn bắn (những mũi tên nhọn, rìu và dao đá) và những dụng cụ đánh cá.
đã cho thấy được phần nào cuộc sống của cư dân trong thời kì đá mới ở Nhật. -Những bộ lạc nhỏ được hình thành, cư dân chủ yếu sống bằng nghề đánh bắt cá, săn bắt, hái lượm. -Trong săn bắn người ta đã biết sử dụng cung tên và chó săn, hoặc đào những hố sâu và lớn ở ven rừng để bẫy những thú lớn. -Còn trong việc đánh cá, lối thông thường là dùng đá ném cho cá bị thương rồi lội xuống bắt hoặc vót xương thú làm lưỡi câu để câu cá nhỏ và làm những mũi lao bằng đá để phóng bắt cá lớn.
Có bằng chứng để khẳng định rằng việc đánh cá bằng chài lưới cũng đã khởi đầu. Ngoài những thức ăn bằng thịt, cá, cư dân thời đó còn vào rừng hoặc ra bãi để hái lượm quả cây, măng, nấm, rau cỏ, hay lặn xuống biển để vớt những loại rong ăn được -Thời Jômon, có sự phân chia công việc giữa nam và nữ. Đàn ông trong tập đoàn lãnh phần việc chế biến dụng cụ bằng đá và săn bắn trong khi phụ nữ lo việc hái nhặt và làm ra các thứ đồ đất nung. -Người thời đó tin rằng thần thánh và oai linh của thiên nhiên tồn tại khắp nơi: từ trong rừng cây, lùm bụi, dưới nước đến tảng đá.
Đây là hình thức gọi là vạn tượng hữu linh (animism) chủ trương mọi vật trong thiên nhiên ngoài hình ảnh cụ thể của nó còn ẩn tàng một sức mạnh siêu nhiên. Thế rồi, nhờ ở các pháp thuật, bùa chú (jujutsu, magic), (majinai, incantation) mà họ cầu thần giải trừ tai ách hay xin mang đến hoa lợi thu hoạch. Di vật của pháp thuật bùa chú thời này còn được thấy qua các tượng đất sét (doguu, clay figure) tượng trưng cho người nữ và các gậy đá (sekibô) chiều dài từ 40, 50 cm đến 1m, hình tròn và dài, tượng trưng cho (phallus, sinh thực khí của) người nam. -Từ thời Jomon trung kì, phong tục nhổ răng chở nên phổ biến.Đây là một nghi thức đánh dấu sự biến chuyển của người ta từ một giai đoạn này sang một giai đoạn khác trong cuộc sống nghĩa là đã trưởng thành hơn.
-Phong tục đánh dấu cuộc sống tinh thần của người Jômon là một phương pháp mai táng khá đặc biệt( khuất táng). Văn hoá thời đại đá mới ở Nhật mà đại diện là đồ gốm Jomon sau 1 thời gian dài phát triển riêng biệt đã dần dần bị thay thế bởi nền văn hoá Yayôi. Nhưng có lẽ ngay từ khi hai nền văn hoá này tiếp xúc với nhau thì văn hoá Yayôi đã suy thoái với tính cách là văn hoá thời đại đá mới đang chuyển vào giai đoạn kim khí. Văn hoá Yayoi (500tr.CN -300 SCN) - Đồ gốm được nung cẩn thận, thường nhẵn và có những dấu hiệu vẽ về săn bắn và chăn nuôi súc vật.
-Vẫn dùng những phương thức tìm kiếm thức ăn có sẵn trong tự nhiên. -Dân Nhật đã bắt đầu biết trồng lúa.Từ chỉ biết chọn nơi bùn lầy gieo thóc xuống để lúa mọc tự nhiên, người ta đã biết dọn cỏ rồi gieo thóc. Khi lúa đã chín, người ta dùng dao đá gặt về và dùng đôi que cặp để tuốt thóc, phơi khô rồi cất giữ trong chum, vò. -Từ thế kỉ II đến I tr.CN, kĩ thuật canh tác, chăn nuôi cùng với đồ dùng bằng kim khí đã đồng thời được truyền bá từ Trung Quốc và Triều Tiên vào làm sức sản xuất phát triển nhanh chóng.
Sản xuất nông nghiệp thời kì này được coi trọng. -Cây lúa trở thành cây trồng chính trong nông nghiệp. Người ta đã biết đào kênh dẫn nước và hồ chứa nước. -Xuất hiện nhiều nghề thủ công, trong đó có nhiều nghề thủ công phát triển và được coi trọng như nghề dệt, nghề rèn, nghề mộc và nghề làm đồ gốm.
-Xuất hiện đa dạng cách chôn người chết. Ở vùng bắc đảo Kyuushuu, có loại phần mộ với bia đá đặt trên mặt đất (gọi là shisekibo). Người chết được chôn trong những cái quách hình chum vò (kamekan).Ở những vùng khác thì người ta đem chôn kẻ chết trong những mộ huyệt đất (dokôbo), mộ quách gỗ (mokkanbo), mộ quách đá hình hộp ( hakoshiki sekkanbo). Họ để thân thể người chết được duỗi thẳng ra (shinkensô) chứ không giống kiểu chôn bẻ xương xếp xác chết co quắp (kussô) của người Jômon.
-Để cầu xin mùa màng được tốt đẹp và cảm tạ thần linh khi thu hoạch dồi dào, họ đã chế ra những dụng cụ bằng thanh đồng dùng vào lễ nghi tế thần như kiếm đồng, mâu đồng, chuông đồng, kích đồng. Trong số đó có loại chuông đồng với hình dáng đặc biệt Nhật Bản. Sự phát triển nhanh chóng của sức sản xuất, sự phân chia đẳng cấp và sự phân chia thành những bộ lạc đã diễn ra. Chế độ công xã nguyên thuỷ ở Nhật lâm vào tình trạng tan rã.NHỮNG NHÀ NƯỚC CỔ ĐẠI Ở NHẬT BẢN -Trong những thế kỉ đầu Công nguyên, ở Nhật đã xuất hiện những hình thức phôi thai của nhà nước.
- Vào thế kỉ I ở Nhật đã hình thành hơn 100 nước nhỏ. Những nước này thực chất là những liên minh bộ lạc được hình thành trong cuộc đấu tranh giữa các bộ lạc nhằm thôn tính lẫn nhau, nhưng đã mang một vài yếu tồ của nhà nước. -Kẻ đứng đầu liên minh bộ lạc ít nhiều đã mang tính chất của một ông vua độc quyền, chuyên chế. Các sử gia Nhật thường gọi các liên minh bộ lạc đó là những quốc gia bộ lạc (Buraku kokka).
Nhiều quốc gia bộ lạc của Nhật Bản thời đó có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Hậu Hán thư chép rằng: "Năm Kiến Vũ Trung Nguyên thứ 2 đời Quang Vũ đế nhà Hậu Hán (năm 57), Nụy Nô Quốc ở cực Nam nước Nhật có phái quan đại phu sang triều cống, được Hán đế đúc ấn vàng phong tước cho; đến niên hiệu Vĩnh Sơ nguyên niên (năm 107) đời An Đế, lại phái một đoàn gồm 160 người sang triều hạ lần nữa". *Nhà nước Yamatai - Cuối thế kỷ thứ II đầu thế kỷ thứ III xuất hiện một số nước tương đối lớn trong đó lớn mạnh hơn cả là đất nước Yamatai do nữ vương Himicô cai trị là nước lớn nhất. Yamatai lần lượt chinh phục các nước khác, bắt các nước đó thần phục mình.
- Dưới thời nữ hoàng Himicô, đã cử các phái đoàn sang gặp các quan cai trị Trung Quốc tại Bắc Triều Tiên, mang theo cống vật và nhờ giúp đỡ chống 1 vương quốc thù địch. Sử sách Triều tiên cũng ghi rằng, nữ vương Himicô đã từng cử sứ thần sang Triều Tiên nhờ giúp bà chống kẻ thù. -Xã hội Yamatai dưới thời cai trị của Himicô phân hoá giai cấp rõ rệt. + Giai cấp thống trị giàu và có nhiều quyền lợi +Còn giai cấp bị trị phải lao động cực khổ với các nghề trồng lúa, nuôi tằm, dệt vải.
-Người thường dân khi gặp quan sang ở ngoài đường đều phải tránh núp, nếu ko kịp thì phải quỳ xuống đường, hai tay chống trên đất, khấu đầu vái lạy. -Nữ vương Himicô có quyền lực lớn nhất, trong cung điện thâm nghiêm có hàng nghìn nữ tì hầu hạ và có quân đội bảo vệ chặt chẽ ở bên ngoài. Xã hội Yamatai là 1 xã hội có giai cấp, có nhà nước, và như vậy từ thế kỉ III nhà nước đã thực sự ra đời ở Nhật. Tuy nhiên nước Yamatai không tồn tại được lâu.
Từ cuối thế kỉ III về sau, ko thấy tài liệu lịch sử nào nói đến nữa. Có lẽ nó bị suy yếu và bị nước khác chinh phục. *Nhà nước Yamato -Cuối TK IV nhờ địa lợi là trung nguyên Hônsư, nơi tổ tiên dòng Thiên hoàng Nhật khởi nghiệp mà Yamatô được nhiều người Nhật tôn sùng, nhiều hào tộc theo; do đó,Yamato hưng khởi lên và thống nhất được nước Nhật. -Trong gần 2 thế kỉ (391 - 562), văn hoá và kĩ thuật của Triều Tiên du nhập vào Nhật.
Qua Triều Tiên, Nhật mở rộng giao lưu với Trung Quốc.