đặt vấn đề đúng vào thời điểm mà nó xuất hiện. Qua quá trình tiếp cận, chúng tôi sẽ thảo luận cũng như góp phần nêu lên nhận định bản thân về vấn đề từ đó góp thêm một góc nhìn khách quan. Ngoài ra, thông qua quá trình tiếp cận chúng tôi sẽ có cơ sở cũng như tiếp thu được nhiều quan điểm khác nhau xoay quanh một vấn đề Lịch sử. Song, trong quá trình tiếp cận chúng tôi cũng tìm hiểu một cách cẩn trọng và suy nghĩ thấu đáo về vấn đề để khi đưa ra những kết luận sẽ có giá trị và như một đóng góp nhỏ cũng như góc nhìn cá nhân đối với vấn đề.
Trong quá trình tiếp cận đôi khi chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng bởi những thông tin tiếp cận được đồng thời chúng tôi cũng không vội kết luận đúng hoặc sai. Bởi chúng tôi cho rằng, trong khoa học không có kết luận nào là đúng hay sai mà chỉ có lập luận đủ sức thuyết phục hay chưa mà thôi. Và khoa học sẽ chết đi nếu tại thời điểm đó tác giả cho rằng vấn đề là đúng hoàn toàn hoặc sai hoàn toàn, vì nếu đúng hoặc sai thì xem như quá rõ ràng đâu cần người nghiên cứu phải tiếp tục. Vì khoa học ngày càng tiến bộ và những thông tin có giá trị ngày càng được cập nhật cũng như được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau qua nhiều kênh khác nhau.
Và bản thân người nghiên cứu phải cập nhật cũng như tập hợp nhanh chóng và nghiên cứu một cách cẩn trọng và đưa ra những nhận định cá nhân cũng như góp thêm một góc nhìn mới, nhận định riêng của bản thân về vấn đề. Tri thức khoa học là loại tri thức có thể sai hoặc đúng và thậm chí nó có thể sai hoặc đúng trong những trường hợp nhất định. Quá trình tiếp cận cũng như nghiên cứu là quá trình vô hạn để đi đến một chân lí khách quan. Trong quá trình tiếp cận, việc diễn ra va chạm giữa đúng và sai là vấn đề tất yếu và người nghiên cứu có quyền mắc sai lầm nhưng cũng đồng thời có trách nhiệm tiếp tục nghiên cứu nhằm sửa chữa, có trách nhiệm thay thế một quan 12 điểm nhiều sai lầm này bằng một quan niệm ít sai lầm hơn và cứ thế tiến gần đến chân lý.
Như vậy, việc tiếp cận các nguồn tại liệu nghiên cứu đa dạng phải diễn ra với một tư duy rộng mở để sẵn lòng đón nhận những quan điểm không giống mình; một tư duy phê phán để phán xét độ tin cậy của thông tin và tính thuyết phục của nhận định; một tư duy phát triển, sáng tạo để có thể tạo ra những cái mới mang dấu ấn cá nhân - thành tựu trong nghiên cứu. Và hơn tất cả để khoa học đạt được những thành quả nhất định đòi hỏi nó phải được nghiên cứu một cách độc lập vì mọi sự ràng buộc sẽ khiến khoa học ngày càng lạc hậu, xơ cứng, do vậy mất đi tính hấp dẫn. Sự cần thiết phải tiếp cận đa dạng các tài liệu nghiên cứu đối với nội dung “Cách mạng tư sản” Trong chương trình Lịch sử Thế giới Cận Hiện đại ở các trường đại học, Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản từ thế kỉ XV đến thế kỉ XX chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Ngày nay, chúng ta không thể phủ nhận một sự thật là, chủ nghĩa tư bản hiện đại là một hệ thống ngày càng mang tính toàn cầu.
Nhìn lại lịch sử có thể thấy chủ nghĩa tư bản đã mang tính thế giới kể từ sau khi các cuộc cách mạng tư sản hoàn thành và chủ nghĩa tư bản xác lập ở châu Âu và Bắc Mĩ. Qua đó, cho thấy việc tìm hiểu cũng như cập nhật tư liệu về vấn đề “Cách mạng tư sản” là một việc làm nhằm tiếp tục góp phần vào sự phục dựng lại quá trình ra đời của hệ thống tư bản chủ nghĩa trên thế giới. Khóa luận giáo dục học Có thể thấy một thực trạng khá phổ biến là cách tiếp cận đơn chiều trong công tác giảng dạy Lịch sử về vấn đề “Cách mạng tư sản”. Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài, công tác giảng dạy Lịch sử thế giới ở các trường đại học Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề từ hệ thống học thuật của Liên Xô về cả nội dung và phương pháp giảng dạy.
Việc giảng dạy vấn đề “Cách mạng tư sản” không nằm ngoài thực trạng này. Dù rằng đội ngũ các chuyên gia, các nhà nghiên cứu đã đầu tư nhiều công sức để biên soạn lại hệ thống giáo trình, sách giáo khoa về Lịch sử thế giới, tuy nhiên chúng ta vẫn còn thấy đâu đó, trong một số giáo trình, sách giáo khoa những quan điểm giáo điều, cứng nhắc, thiếu sức thuyết phục hoặc chưa đồng bộ về một số vấn đề. Đồng thời, sinh viên còn thiếu độ sâu khi nhận thức về “Cách mạng tư sản” cũng như cảm thấy khó khăn trước những thông tin tản mạn. Tình hình đó đòi hỏi chúng tôi cố sức tiếp cận thêm các tài liệu để thoả mãn nhu cầu nhận thức quá khứ và phục vụ trong cho công tác dạy học.
Thêm nữa, qua việc mở rộng hướng tiếp cận sẽ cung cấp một góc nhìn mới về Lịch sử cũng như cách thức thể hiện, trình bày một vấn đề về khoa học Lịch sử từ các học giả phương Tây. Từ đó, tạo nên cơ sở để có thể so sánh cũng như đối chiếu về phương thức và phương pháp học tập cũng như nghiên cứu Lịch sử. Tiếp cận là vấn đề cấp thiết và cần thiết trong khoa học Lịch sử. Vì ở mỗi chính thể khác nhau thì vấn đề sẽ được tiếp thu và cập nhật cũng như thể hiện ở mức độ khác nhau.
Suy cho cùng, việc tiếp cận cũng chỉ hướng đến góp phần để vấn đề thêm sáng tỏ cũng như tạo nên sức hấp dẫn của vấn đề. Nội dung “Cách mạng tư sản” cho đến nay vẫn còn nhiều bất đồng, bởi lẽ sự bất đồng trong khoa học cũng chỉ sinh ra từ góc nhìn khác nhau. Vì thế, việc tiếp cận những tài liệu cũng như những bài giảng 13 đáng tin cậy từ các trường Đại học lớn tại Hoa Kì như góp thêm một nguồn tài liệu, sự biện luận nhằm làm sáng rõ những vấn đề còn hoài nghi. “Cách mạng tư sản” theo các sử gia phương Tây và dưới góc nhìn của họ khi so sánh và đối chiếu với góc nhìn cũng như cách tiếp cận với các tài liệu lưu hành như Giáo trình hiện đang được sử dụng tại các trường đại học trong nước quả thật có những bất đồng cũng như cách lập luận và đi đến kết luận không đồng nhất.
Vì thế, việc tiếp cận sẽ góp phần đi sâu hơn cũng như có cái nhìn mang tính toàn diện, rộng mở hơn trong đánh giá các cuộc cách mạng. Như vậy, theo chúng tôi, việc mở rộng hướng tiếp cận về nội dung “Cách mạng tư sản” là một việc làm hết sức cần thiết trong tình hình dạy học hiện nay. Khóa luận giáo dục học 14 Chương 2. NỘI DUNG “CÁCH MẠNG TƯ SẢN” ĐƯỢC TRÌNH BÀY TRONG GIÁO TRÌNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI VÀ MỘT SỐ TÀI LIỆU TIẾNG ANH Trong chương hai chúng tôi sẽ mở rộng tiếp cận nội dung “Cách mạng tư sản” dựa trên các nguồn tài liệu sau: 1.
Tài liệu giáo trình: Holt, Rinehart and Winston. Holt World History: The Human Journey. Texas: Holt, Rinehart and Winston. A History of Western Society.
Boston, MA: Houghton Mifflin. History of Europe 1500 - 1848, New York: Barnes & Noble Inc. Bài giảng online của Giáo sư John Merriman và Joanne Freeman của Đại học Yale. Qua quá trình tiếp cận, cập nhật thông tin về Cách mạng Anh, Hoa Kì, Pháp từ các tài liệu tiếng Anh, bài giảng điện tử, chúng tôi sẽ so sánh, đối chiếu, thảo luận cũng như cập nhật và đưa ra quan điểm của cá nhân đối với từng vấn đề.
Khóa luận giáo dục học 2. Cách mạng Anh (1640 - 1689) Cách mạng Anh là cuộc cách mạng thứ hai trên thế gới sau cách mạng Hà Lan thế kỉ XVI. Chúng tôi dựa trên: (1) Giáo trình Lịch sử Thế giới Cận đại của tác giả Vũ Dương Ninh và Nguyễn Văn Hồng, được sử dụng giảng dạy Học phần Lịch sử Thế giới Cận đại để điểm lại sơ nét về cách mạng Anh. (2) Holt World History: The Human Journey, là tài liệu chính phục vụ cho công tác tiếp cận của chúng tôi đối với cuộc cách mạng Anh.
Nội dung “Cách mạng Anh” trong giáo trình “Lịch sử Thế giới Cận đại” Bất kỳ một lĩnh vực khoa học nào đều có những nguyên tắc riêng của nó. Khoa học Lịch sử cũng thế, để đi đến hai từ gọi là cách mạng chắc hẳn phải có nguyên nhân, diễn biết, và kết quả. Theo giáo trình, tác giả đã giành 22 trang để trình bày về cách mạng Anh. Trong đó, 10 trang đề cập về nguyên nhân, 10 trang về tiến trình cách mạng, và 2 trang để bàn về kết quả cũng như những đánh giá của tác giả.
Với 10 trang đầu bàn về nguyên nhân, tác giả đề cập đến những tiền đề về xã hội cũng như tư tưởng để dẫn đến cách mạng và sự phân bố giai cấp trong xã hội. Đại ý về nguyên nhân, tôi xin tóm tắt như sau: đến thế kỉ XVI, công thương nghiệp Anh bắt đầu khởi sắc, thời kỳ huy hoàng công thương bắt đầu với những biến đổi. “…công nghiệp chế biến len tăng lên mạnh mẽ và nước Anh trở thành nước cung cấp hoàng hoá bằng len cho các thị trường bên ngoài” [8, tr.9], nhưng “…do sự phát triển củ công nghiệp len dạ ngày càng mạnh, nên nghề nuôi cừu trở thành nghề có lợi nhất. Địa chủ không thoả mãn với địa tô thu được của nông dân nên đều tăng nguồn 15 thu nhập riêng bằng cách tước đoạt ruộng đất mà nông dân đang cày cấy … biến thành đồng cỏ chăn cừu …” [8, tr.
Qua hai trích dẫn trên, phản ánh rằng chính thời kỳ huy hoàng công thương ở các thành thị tráng lệ đã kéo theo sự thay đổi tang thương ở các vùng nông thôn với hiện tượng được biết đến là “Nạn rào đất cướp ruộng” [11, tr.309], hiện tượng trên được xem là quá trình tích luỹ nguyên thuỷ tàn bạo ở nước Anh với hiện tượng “cừu ăn thịt người”. Nền chính trị Anh cũng chứa đựng những mâu thuẫn vì “…đến đầu thế kỉ XVII, giữa vua và nghị viện,…luôn có sự xung đột gay gắt…” [8, tr. Với những mâu thuẫn kinh tế, xã hội, chính trị,… được tác giả phân tích khá thận trọng và khi mâu thuẫn không thể giải quyết theo chiều hướng hoà giải thì ắt nó phải được giải quyết trong một bầu không khí đầy tang thương.