Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Sưu tầm và biên soạn bài dạy lịch sử địa phương - Đông Nam Bộ góp phần nâng cao chất lượng bộ môn Lịch sử ở trường THPT" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Thanh Chỉ (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, khóa 2007 - 2011) dưới sự hướng dẫn của thầy Phạm Chung Thủy vào tháng 5 năm 2011.

Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác giáo dục lịch sử bậc Trung học phổ thông (THPT). Môn Lịch sử giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, truyền thống yêu nước và bản lĩnh cho thế hệ trẻ. Tuy nhiên, thực tế dạy học bộ môn này trong nhiều năm ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng về chất lượng và mức độ quan tâm của học sinh. Tác giả dẫn chứng nhận định của GS. NGND Phan Huy Lê (Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) về kết quả thi tuyển sinh đại học môn Lịch sử với tỷ lệ trên 80% thí sinh đạt điểm dưới trung bình, trong đó hơn 60% có điểm dưới 1. Bên cạnh đó, số liệu thi đại học năm 2006 ghi nhận điểm bình quân môn Sử toàn quốc chỉ đạt 1,90; năm 2007 đạt 2,09; tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2006 có gần 700 bài thi điểm 0; thống kê 2.000 bài thi khối C năm 2007 cho thấy 21,39% bài thi nhận điểm 0 hoặc 0,5 và chỉ có 9,23% bài đạt từ 5 điểm trở lên.

Ở mảng giáo dục lịch sử địa phương, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định thời lượng cụ thể trong phân phối chương trình, giáo viên tại các trường phổ thông vẫn gặp nhiều lúng túng do thiếu hụt tài liệu tham khảo chuẩn hóa, hạn chế về nguồn kinh phí và phương pháp triển khai chưa phát huy được tính chủ động của học sinh. Nhiều học sinh không nắm được tiến trình hình thành của vùng đất mình đang sinh sống, không biết tiểu sử danh nhân mang tên trường hoặc các sự kiện lịch sử diễn ra tại quê hương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vị trí, ý nghĩa, các hình thức tổ chức và nguyên tắc biên soạn bài dạy lịch sử địa phương trong chương trình THPT.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy và học lịch sử địa phương tại một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Sưu tầm, xử lý nguồn tư liệu lịch sử vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975 (trọng tâm là 1964 - 1975).
  4. Tiến hành biên soạn các giáo án mẫu bài dạy nội khóa (chương trình lớp 12) và kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa tham quan thực tế tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy trình sưu tầm tài liệu và phương pháp biên soạn bài dạy lịch sử địa phương (nội khóa và ngoại khóa) phục vụ dạy học lịch sử THPT.
  • Phạm vi không gian: Khu vực Đông Nam Bộ (trọng tâm là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai); khảo sát thực tế tại 5 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các sự kiện lịch sử Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1954 đến năm 1975, đặc biệt tập trung vào giai đoạn 1964 - 1975; thời điểm khảo sát thực trạng là năm học 2010 - 2011.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa "cái chung" và "cái riêng", trong đó lịch sử địa phương là bộ phận không thể tách rời của lịch sử dân tộc. Tác giả tổng hợp và phân tích định nghĩa về "địa phương" và "lịch sử địa phương" từ các tài liệu học thuật: Từ điển Tiếng Việt (Trung tâm Từ điển ngôn ngữ, 1992), giáo trình của GS. Trương Hữu Quỳnh (1989), PGS.TS. Nguyễn Cảnh Minh (2007), GS. Phan Ngọc Liên (1980, 1994) và PGS.TS. Nguyễn Thị Côi. Khái niệm lịch sử địa phương được xác định là lịch sử của một vùng đất, khu vực hành chính (tỉnh, thành phố, làng, xã, vùng miền) có ranh giới tự nhiên hoặc hành chính, gắn liền với quá trình sinh sống, lao động và đấu tranh của cộng đồng dân cư qua các thời kỳ.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp chuyên ngành sử học và giáo dục học:

  • Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp, xâu chuỗi các sự kiện lịch sử tiêu biểu của vùng Đông Nam Bộ gắn với tiến trình lịch sử dân tộc.
  • Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học: Sử dụng phiếu hỏi (bảng câu hỏi đóng và mở) để thu thập dữ liệu thực trạng từ 25 giáo viên lịch sử và 200 học sinh tại 5 trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp thống kê toán học: Phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm số liệu định lượng từ các phiếu điều tra khảo sát.
  • Phương pháp điền dã, nghiên cứu thực địa: Thu thập tư liệu trực tiếp tại các di tích lịch sử (Địa đạo Củ Chi, Dinh Độc Lập) và tiếp cận nguồn tư liệu gốc, gặp gỡ nhân chứng lịch sử.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm 5 nhóm tư liệu chính:

  • Tư liệu hiện vật (di tích khảo cổ, công trình kiến trúc, di tích lịch sử cách mạng).
  • Tư liệu thành văn (văn bia, thần tích, địa phương chí, văn kiện và lịch sử Đảng bộ địa phương).
  • Sử liệu dân tộc học (phong tục tập quán, lối sống, sinh hoạt xã hội truyền thống).
  • Sử liệu ngôn ngữ học (địa danh học, phương ngôn, thành ngữ địa phương).
  • Sử liệu truyền miệng (truyện kể dân gian, hồi ức của nhân chứng và cán bộ lão thành cách mạng).

Nội dung chính theo từng chương

Phần Mở đầu: Xác lập mục tiêu và giới hạn nghiên cứu

Tác giả trình bày lý do chọn đề tài dựa trên tính cấp thiết về lý luận và thực tiễn giáo dục; điểm qua lịch sử vấn đề từ các công trình nghiên cứu phương pháp dạy học lịch sử của Nguyễn Cảnh Minh, Trương Hữu Quỳnh, Lê Khắc Nhân, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi, Đào Tố Uyên; xác định phạm vi thời gian (1954 - 1975), không gian (Đông Nam Bộ), phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục văn bản gồm 2 chương chính.

Chương I: Cơ sở lý luận chung

Chương I tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về bộ môn Lịch sử và công tác giảng dạy lịch sử địa phương ở trường THPT qua 5 mục lớn:

1. Bộ môn lịch sử ở trường THPT: Phân tích đặc trưng nhận thức lịch sử (học về các sự kiện quá khứ không thể tái tạo trực tiếp) và thực trạng dạy học môn Sử qua các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học giai đoạn 2004 - 2008.

2. Đổi mới phương pháp dạy - học lịch sử ở trường THPT: Hệ thống hóa 3 nhóm phương pháp chính:

  • Phương pháp thông tin tái hiện: Cung cấp sự kiện nhằm hình thành biểu tượng lịch sử.
  • Phương pháp nhận thức lịch sử: Phát triển tư duy, giúp học sinh khái quát quy luật và bài học lịch sử.
  • Phương pháp tìm tòi nghiên cứu: Rèn luyện kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn theo nguyên lý "học đi đôi với hành".
  • Kết hợp phương tiện trực quan (bản đồ, hiện vật, công nghệ thông tin). Đổi mới phải đảm bảo 3 nguyên tắc: đúng định hướng Mác-xít, có tính kế thừa và đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất.

3. Vị trí, ý nghĩa của lịch sử địa phương trong dạy học lịch sử ở trường THPT: Phân tích khái niệm lịch sử địa phương; vai trò cụ thể hóa và tạo "trực quan sinh động" cho lịch sử dân tộc; giáo dục tình yêu quê hương, ý thức bảo vệ di tích văn hóa - lịch sử; rèn luyện kỹ năng nghiên cứu cho học sinh và giáo viên. Đánh giá quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thời lượng 2 tiết/năm cho mỗi khối lớp 10, 11, 12 và thực trạng dạy học thông qua kết quả điều tra thực tế tại 5 trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhóm đối tượng Mẫu phát ra Mẫu thu về Phạm vi khảo sát (Trường THPT tại TP.HCM)
Giáo viên 30 phiếu 25 phiếu Marie Curie (Q.3), Nguyễn Chí Thanh (Tân Bình), Bùi Thị Xuân (Q.1), Trần Khai Nguyên (Q.5), Trần Phú (Tân Phú)
Học sinh 200 phiếu 200 phiếu Marie Curie (Q.3), Nguyễn Chí Thanh (Tân Bình), Bùi Thị Xuân (Q.1), Trần Khai Nguyên (Q.5), Trần Phú (Tân Phú)

4. Nguyên tắc biên soạn bài dạy lịch sử địa phương ở trường THPT:

  • Hướng dẫn quy trình sưu tầm, chỉnh lý, thẩm định 5 nguồn sử liệu (hiện vật, thành văn, dân tộc học, ngôn ngữ học, truyền miệng).
  • Xác lập 6 yêu cầu khi lựa chọn nội dung: tương ứng với tiến trình lịch sử dân tộc; chọn sự kiện cơ bản, tiêu biểu; đảm bảo tính phổ thông, vừa sức theo lứa tuổi; đánh giá đúng công lao của nhân vật lịch sử địa phương; có kế hoạch thực hiện thường xuyên; quán triệt quan điểm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai trong nhận thức lịch sử.
  • 3 nguyên tắc biên soạn: tuân thủ phân phối chương trình; thể hiện tính thông sử toàn diện, tránh biến giờ học thành buổi tuyên truyền đơn thuần; dựa vào nguồn tài liệu chính thống (Lịch sử Đảng bộ, tư liệu của Sở Giáo dục & Đào tạo, Sở Văn hóa - Thể thao & Du lịch).

5. Những hình thức tổ chức dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT: Phân loại thành hình thức nội khóa (tiết học tại lớp, bài học tại bảo tàng tận dụng hơn 40.000 di tích lịch sử cả nước, trong đó có 2.000 di tích quốc gia) và hình thức ngoại khóa (dạ hội lịch sử, trò chơi lịch sử, đọc sách báo lịch sử địa phương).

Chương II: Sưu tầm, biên soạn bài dạy lịch sử địa phương Đông Nam Bộ phục vụ dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương II triển khai các nội dung thực hành sư phạm cụ thể cho chương trình Lịch sử lớp 12:

1. Lý do chọn địa phương Đông Nam Bộ: Đông Nam Bộ là địa bàn chiến lược đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến, nơi diễn ra nhiều chiến dịch quân sự lớn và phong trào đấu tranh đô thị sôi nổi, có hệ thống di tích dày đặc thuận lợi cho giáo viên và học sinh các tỉnh phía Nam khai thác.

2. Tiến hành biên soạn bài giảng nội khóa lịch sử địa phương (Lớp 12):

  • Bài 1: Cuộc kháng chiến chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Bộ và các chiến dịch tiêu biểu. Phân tích vị trí chiến lược của Đông Nam Bộ; nội dung chi tiết về Chiến dịch Bình Giã (2/12/1964 – 3/1/1965), Chiến dịch Đồng Xoài (10/5 – 22/7/1965), các trận đánh trong Chiến dịch Bàu Bàng – Dầu Tiếng (1965). Thiết kế giáo án hoàn chỉnh gồm: mục tiêu bài học (kiến thức, tư tưởng, kỹ năng), công tác chuẩn bị của giáo viên - học sinh, tiến trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp.
  • Bài 2: Phong trào học sinh, sinh viên Sài Gòn - Gia Định giai đoạn 1965 - 1968. Làm rõ bối cảnh, các hình thức bãi khóa, biểu tình, đấu tranh chính trị tại đô thị; xây dựng tiến trình tổ chức dạy học hướng dẫn học sinh sưu tầm tư liệu, làm việc nhóm và thuyết trình.

3. Tiến hành biên soạn bài ngoại khóa lịch sử địa phương:

  • Hoạt động 1: Tham quan Địa đạo Củ Chi và tìm hiểu cuộc hành quân Cedar Falls của Mỹ vào vùng Tam giác sắt (tháng 1/1967). Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hậu cần, nội dung thuyết minh tại thực địa, phiếu học tập và hướng dẫn học sinh viết bài thu hoạch.
  • Hoạt động 2: Tham quan Dinh Độc Lập và tìm hiểu Đại thắng mùa xuân năm 1975 (Chiến dịch Hồ Chí Minh từ 26/4 đến 30/4/1975). Xác định quy trình chuẩn bị, nội dung quan sát hiện vật, phân tích sự kiện lịch sử trưa ngày 30/4/1975 và đánh giá kết quả sau chuyến đi.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:

  1. Dữ liệu thực trạng dạy học: Kết quả khảo sát 25 giáo viên và 200 học sinh tại 5 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra:
    • 100% các trường thực hiện dạy lịch sử địa phương chủ yếu bằng hình thức nội khóa (giảng dạy trên lớp).
    • Phần lớn giáo viên gặp khó khăn về nguồn tư liệu chính thống, thiếu thời gian và kinh phí tổ chức cho học sinh đi thực tế; việc bảo đảm an toàn khi đi ngoại khóa là trở ngại lớn.
    • Đa số học sinh chỉ biết rất ít về lịch sử địa phương nơi mình cư trú; phần lớn học sinh bày tỏ nguyện vọng được học lịch sử thông qua tham quan di tích, tiếp xúc hiện vật hoặc tham gia các tuần lễ bộ môn thay vì phương pháp thuyết trình một chiều.
  2. Hệ thống hóa nguyên tắc phương pháp luận: Khóa luận xác lập 6 tiêu chí lựa chọn sự kiện và 3 nguyên tắc biên soạn tài liệu lịch sử địa phương, giúp định hướng giáo viên phân biệt giữa kiến thức thông sử phổ thông với chuyên đề lịch sử chuyên sâu.
  3. Sản phẩm sư phạm ứng dụng: Xây dựng hoàn chỉnh 2 giáo án bài học nội khóa lớp 12 gắn liền với các chiến dịch quân sự và phong trào đấu tranh tại Đông Nam Bộ (Bình Giã, Đồng Xoài, Bàu Bàng - Dầu Tiếng, phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn - Gia Định) cùng 2 bản kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa tại Di tích Địa đạo Củ Chi và Dinh Độc Lập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tế giới hạn trong mẫu 25 giáo viên và 200 học sinh tại 5 trường THPT thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung biên soạn thực hành mới chỉ tập trung vào giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975, trọng tâm 1964 - 1975) phục vụ chương trình Lịch sử lớp 12, chưa mở rộng sang các giai đoạn lịch sử phong kiến, cận đại hoặc nội dung lịch sử lớp 10, lớp 11; các nội dung về kinh tế, văn hóa, xã hội địa phương chưa được thiết kế thành các bài giảng độc lập.
  • Hướng phát triển: Mở rộng biên soạn tài liệu lịch sử địa phương Đông Nam Bộ cho chương trình lớp 10 và 11; xây dựng thêm các chủ đề về lịch sử văn hóa, danh nhân và làng nghề truyền thống; nghiên cứu tích hợp ứng dụng công nghệ thông tin và đa dạng hóa các mô hình ngoại khóa như câu lạc bộ lịch sử, dạ hội chuyên đề.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giáo viên môn Lịch sử tại các trường THPT (đặc biệt khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ): Tham khảo khung nguyên tắc biên soạn và sử dụng trực tiếp các giáo án mẫu nội khóa, kế hoạch tham quan ngoại khóa lớp 12.
  • Sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử, Sư phạm Lịch sử - Giáo dục Quốc phòng: Tham khảo phương pháp thiết kế bài giảng lịch sử địa phương, kỹ năng xử lý tư liệu điền dã và quy trình xây dựng công cụ khảo sát thực trạng giáo dục.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường phổ thông và Sở Giáo dục & Đào tạo: Cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân bổ thời lượng, tài liệu và kinh phí cho các hoạt động giáo dục địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng những số liệu thống kê nào để minh chứng cho thực trạng sụt giảm kết quả học tập môn Lịch sử ở trường phổ thông?
Tác giả dẫn số liệu thi tuyển sinh đại học: năm 2006 điểm bình quân môn Sử cả nước là 1,90; năm 2007 là 2,09; tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2006 có gần 700 bài thi điểm 0; thống kê 2.000 bài thi khối C năm 2007 có 21,39% bài nhận điểm 0 hoặc 0,5 và chỉ có 9,23% bài đạt trên 5 điểm; trích dẫn nhận định của GS. NGND Phan Huy Lê về tỷ lệ trên 80% bài thi dưới trung bình và hơn 60% bài thi dưới 1 điểm trong kỳ thi đại học.

2. Khảo sát thực trạng trong đề tài được tiến hành ở những trường THPT nào với quy mô bao nhiêu?
Khảo sát được thực hiện tại 5 trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: THPT Marie Curie (Quận 3), THPT Nguyễn Chí Thanh (Quận Tân Bình), THPT Bùi Thị Xuân (Quận 1), THPT Trần Khai Nguyên (Quận 5) và THPT Trần Phú (Quận Tân Phú). Tổng số phiếu phát ra và thu về gồm 25/30 phiếu giáo viên và 200/200 phiếu học sinh.

3. Khóa luận nêu ra những nguyên tắc cơ bản nào khi lựa chọn sự kiện lịch sử địa phương để giảng dạy?
Nội dung lựa chọn phải tương ứng về mặt thời gian và tính chất với bài học lịch sử dân tộc; chỉ chọn lọc những sự kiện cơ bản, tiêu biểu nhất của địa phương; đảm bảo tính phổ thông vừa sức với học sinh THPT; xác định rõ công lao đóng góp của nhân vật lịch sử; thực hiện giảng dạy có kế hoạch; và quán triệt quan điểm khép lại quá khứ, hướng tới tương lai trong giáo dục hòa bình.

4. Những sự kiện và địa danh lịch sử cụ thể nào tại Đông Nam Bộ được chọn để thiết kế bài giảng nội khóa và ngoại khóa?

  • Bài học nội khóa: Chiến dịch Bình Giã (2/12/1964 – 3/1/1965), Chiến dịch Đồng Xoài (10/5 – 22/7/1965), Chiến dịch Bàu Bàng – Dầu Tiếng (1965), và Phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn - Gia Định (1965 – 1968).
  • Hoạt động ngoại khóa: Di tích Địa đạo Củ Chi gắn với cuộc hành quân Cedar Falls (tháng 1/1967) và Di tích Dinh Độc Lập gắn với Chiến dịch Hồ Chí Minh (tháng 4/1975).

5. Thời lượng dạy học lịch sử địa phương theo phân phối chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo ở cấp THPT được quy định như thế nào?
Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo được trích dẫn trong văn bản, thời lượng dành cho phần lịch sử địa phương ở mỗi khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12 đều là 2 tiết trong một năm học.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Chỉ đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy học lịch sử địa phương tại trường THPT. Thông qua việc điều tra thực trạng tại 5 trường THPT ở Thành phố Hồ Chí Minh và nghiên cứu nguồn sử liệu Đông Nam Bộ giai đoạn 1964 - 1975, công trình đã đề xuất quy trình thu thập, xử lý tư liệu và thiết kế hoàn chỉnh các giáo án bài dạy nội khóa, ngoại khóa cho chương trình lớp 12. Đề tài đóng góp tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên phổ thông và sinh viên sư phạm trong việc nâng cao chất lượng giáo dục lịch sử địa phương.