CHƯƠNG I: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE ĐÔ DUNG TRỰC QUAN 1. Thực trạng của việc dạy và học lịch sử ở trường phé thông hiện nay Như chúng ta đã biết, lịch sử là môn học đặc tha, kiến thức lich sử là kiến thức về quá khứ. Có những sự kiện đã điễn ra cách ngày nay hàng trăm, hàng ngàn năm, thậm chí lâu hơn. Yêu cầu bộ môn đòi hỏi, khi nhận thức lịch sử học sinh phải tái hiện những sự kiện, hiện tượng đó một cách sống động như đang diễn ra trước mắt mình.
Để làm được điều đó, ngoài sự chủ động của học sinh thì phương pháp giảng dạy của giáo viên chính là yếu tố quyết định. Ở nước ta, bộ môn Lịch sử được quan tâm và đưa vào giảng dạy trong nhà trường từ rất sớm, tuy nhiên bên cạnh việc quan tâm, đặt vị trí môn Lịch sử xứng đáng trong nền giáo đục quốc dân, thì nhiều người vẫn có quan niệm không đúng về vai trò, vị trí, chức năng của bộ môn nên đã đối xử không bình đẳng với môn lịch sử như các bộ môn khác. Ngoài ra còn do nhiều nguyên nhân khác như: Do tác động của nền kinh tế thị trường, do điều kiện làm việc của đội ngũ giáo viên còn khó khăn và chưa được quan tâm đúng mức đã ảnh hưởng đến nghẻ nghiệp và chất lượng đạy học, nên việc đạy và học lịch sử hiện nay vẫn còn nhiều bắt cập. Hiện nay hầu như học sinh không còn ham thích học tập môn Lịch sử ở nhà trường phé thông, việc này có rất nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân cơ bản làm cho các em nhàm chán là do yêu cầu của giáo viên bắt các em nhớ quá nhiều sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách máy móc, khô khan mà trong giờ học lịch sử nào thầy giáo cũng bắt buộc.
Việc học sinh chán học môn lịch sử nói trên là đúng nhưng không phải do bản thân bộ môn lịch sử gây ra mà chính là do quan niệm và phương pháp dạy học của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu của người học hay nói khác hơn là người thầy giáo chưa gây được hứng thú học tập trong giờ học lịch sử. Nhiều giáo viên nhận thức được tằm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử và hướng đổi mới là phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh. Để thực hiện điều này, một số giáo viên đã vận dụng kết hợp các phương pháp dạy học, trong đó có các biện pháp như sử dụng kết hợp nhiều phương pháp đặc biệt là sử SVTH : Nguyên Thị Phương 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS - TS Ngô Minh Oanh dụng bản đồ, niên biểu, tranh ảnh lịch sử nhằm cụ thể hóa các kiến thức lịch sử. Song bên cạnh đó, vẫn còn không ít giáo viên chưa nhận thức được điều này, khi lên lớp hau hết giáo viên đều giảng chay và kiến thức bài giảng đều trùng khớp với sách giáo khoa, dẫn đến học sinh nhàm chán không muốn nghe thầy giảng mà dẫn đến làm việc riêng.
Trong phương pháp dạy và học lịch sử, giáo viên thường chúý đến kênh chữ mà ít chú ý đến kênh hình như bản đồ, tranh ảnh. trong quá trình lên lớp. Một số giáo viên nhận thức được điểm mau chốt của đổi mới phương pháp dạy học là phải thay đổi quan niệm cũ trước đây và phải phát huy các năng lực nhận thức độc lập, phát triển tính tích cực học tập của học sinh. Song về biện pháp thực hiện thì chưa tốt.
Một số giáo viên quan niệm rằng, đặt nhiều câu hỏi là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực mà không kết hợp với việc khai thác các bản đồ, niên biểu. Vì vậy, giờ học trở nên căng thẳng, khô khan và làm cho học sinh ít hứng thú học tập. Một bộ phận giáo viên, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa ít được cập nhật thông tin khoa học, chưa nhận thức đầy đủ tam quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Vì vậy, trong giờ học lịch sử Thầy làm việc là chủ yếu, trò thụ động ghỉ chép còn khá phổ biến.
Thậm chí, hiện tượng đọc chép còn tràn lan. Mặt khác, cũng có một bộ phận giáo viên tuy nhận thức được vấn dé đổi mới phương pháp day học nhưng lại lay nguyên nhân học sinh yếu kém không thé vận dụng các biện pháp đổi mới nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh, nên cũng chỉ đọc chép, không rèn luyện cho các em năng lực tư duy độc lập, chiếm lĩnh kiến thức và trang bị phương pháp học tập tốt. Việc kiểm tra, đánh giá học sinh còn nặng về ghi nhớ sự kiện một cách máy móc, thuộc lòng mà it chú ý đến các kỹ năng phân tích, đánh giá, rút ra nhận xét, kết luận. Việc kiểm tra chỉ mới hướng đến cho điểm, chưa đánh giá được nhận thức lịch sử của học sinh, nên ảnh hưởng đến đổi mới phương pháp dạy học lịch sử và ít tạo được hứng thú học tập lịch sử.
Xuất phát từ thực trạng của việc dạy- học lịch sử như trên mà việc phải đổi mới nội dung, phương pháp dạy học là nhiệm vụ cắp bách đặt ra lúc này. Với phương châm SVTH : Nguyên Thị Phương 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS - TS Ngô Minh Oanh “lấy học sinh làm trung tâm" việc sử dụng nhiều phương pháp trong dạy học là vô cùng cần thiết, và một trong những biện pháp quan trọng không thể thiếu trong việc nâng cao hiệu quả bài học lịch sử - đó chính là việc sử dụng 44 dùng trực quan quy ước trong dạy học lịch sử nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học sinh trong học tập. Để làm được điều này cần phải xuất phát từ sự quan tâm đúng mức từ các cơ quan chức năng, từ đội ngũ giáo viên và học sinh trong cả nước. Có như vậy mới khắc phục được những hạn chế, những bất cập của bộ môn và hiệu quả, chất lượng dạy và học lịch sử mới được nâng cao.
Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng đồ dùng trực quan trong đạy học lịch sử 1. Quy luật nhận thức Chúng ta biết rằng, quá trình nhận thức gồm hai giai đoạn: Giai đoạn cảm tính và giai đoạn lý tính, hai quá trình này luôn gắn bó với nhau và có mếi quan hệ ràng buộc nhau về bản chất. Nhận thức là quá trình tồn tại khách quan, là quá trình mà một con người bình thường nào cũng phải có. Ngay từ khi xuất hiện, con người đã nảy sinh nhu cầu nhận thức về chính minh và thế giới xung quanh.
Và dần dần nhận thức của con người càng phong phú và sâu sắc hơn. Con người ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng nhiều, muốn đáp ứng được nhu cầu đó thì con người phải nhận thức được đối tượng của nhu cầu là gì? Như vậy, ta thấy nhận thức xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, chính môi trường thực tiễn sẽ cung cắp những hình ảnh, sự vật cụ thể.” Nhà giáo dục Việt Nam là Hồ Ngọc Đại đã nhận định: Trực quan sinh động, thực tiễn sinh động đây chính là cơ sở - động lực, tiêu chuẩn của quá trình nhận thức. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng "trực quan” đóng vai trò rất quan trọng đối với ? Nguyễn Thị Thu Hiển (1999), Khóa luận tốt nghiệp “Suw dm, xdy dựng hệ thẳng phương tiện trực quan dé phục vụ giảng dạy lịch sử thé giới cận đại | (1640 - 1870) nhằm gáy hứng thủ cho học sinh trong học tập lịch sử", ĐHSP TP HCM. SVTH : Nguyên Thị Phương 15 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS - TS Ngô Minh Oanh quá trình nhận thức và nếu không có trực quan thì việc nhận thức của con người không thể đầy đủ trong quá trình hình thành tri thức.
Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông Học sinh Trung học phổ thông có độ tuổi từ 15 đến 18. Đây là thời kì trưởng thành về mặt cơ thể: Hệ xương hoàn thiện, hệ cơ bắp tiếp tục phát triển.Bên cạnh đó các em cũng bắt đầu ý thức về vị thế của mình trong gia đình và xã hội. Các em có nhu cầu thể hiện khả năng suy nghĩ độc lập của mình. Mặt khác lứa tuổi học sinh trung học phổ thông cũng là giai đoạn quan trọng trong việc phát triển các năng lực trí tuệ.
Tính chủ định phát triển mạnh ở tất cá các quá trình nhận thức. Các em có khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách sáng tạo. Từ đó, ta thấy rằng, việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học vừa phù hợp với khả năng nhận thức, vừa đáp ứng được nhu cầu tâm lí của học sinh Trung học phổ thông. Vi vậy, người giáo viên cần phải hiểu rõ đặc điểm tâm lí lứa tuổi của học sinh phổ thông, có như vậy mới có cơ sở để phát huy tích cực của học sinh.
Kết quả thực nghiệm tâm lý - giáo đục Quá trình nhận thức của con người có trọn vẹn hay không là phụ thuộc vào việc sử dụng các giác quan trong quá trình nhận thức của mình. Do vậy, việc kết hợp các giác quan với nhau trong quá trình nhận thức là việc rất quan trong va cần thiết. Hệ thống giác quan của con người gồm: Xúc giác, thị giác, khứu giác, vị giác. Tắt cả đều có tham gia cũng như có vị trí cao trong quá trình nhận thức các sự vật, hiện tượng khách quan của con người.
Qua điều tra thực tế tâm lí học hiện đại cho thấy: Nếu kết hợp nhiều giác quan cùng một lúc khi tham gia hoạt động nhận thức thì sự nhằm lẫn, sai sót sẽ giảm đi, kết quả và độ bền vững của tri thức sẽ tăng lên. Người ta tổng kết mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông như sau.‘ * Nguyễn Thị Thu Hiển (1999), Khóa luận tốt nghiệp “Sưu tẩm, xảy dựng hệ thống phương tiện trực quan dé phục vu giáng day lịch sử thé giới cận đại I (1640 - 1870) nhằm gây hứng thứ cho học sinh trong học tập lịch xử", ĐHSP TP HCM .ễ—mmmmxsnnmaaaammmmmmmamaaaaaaamammmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmmm—=———mm=mmmmm SVTH : Nguyên Thị Phương ló Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS- TS Ngô Minh Oanh Cách nhớ Tổ chức giáo dục văn hóa khoa học UNESCO của Liên Hợp Quốc đã tiến hành một cuộc điều tra khác và đưa ra kết quả: Nhóm được truyền tải thông tin bằng hình ảnh thì nhận được 25 % lượng thông tin. Nhóm được truyền tải thông tin bằng âm thanh thì nhận được 15 % lượng thông tin.