phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 2 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng PPĐV trong dạy học lịch sử ở trƣờng phổ thông. Biện pháp vận dụng PPĐV trong dạy học lịch sử Việt Nam (Thế kỉ X – giữa thế kỉ XIX), lớp 10 THPT - Chƣơng trình chuẩn. 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG PHƢƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1.
Một số khái niệm 1. Phƣơng pháp dạy học Thuật ngữ phƣơng pháp có nhiều tài liệu dẫn xuất xứ là từ tiếng Hy Lạp: Methodos – “con đƣờng dẫn đến chân lý”. Phƣơng pháp hiểu theo nghĩa chung nhất “là con đƣờng, là cách thức mà chủ thể sử dụng để tác động nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tƣợng theo mục đích đã định” [29,tr. Về PPDH, đã có nhiều cách hiểu và cách định nghĩa khác nhau: Theo I.Lecne,1981, cho rằng “PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn”[1,tr.
Babanxki,1983, cho rằng “ PPDH là cách thức tƣơng tác giữa thày và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dƣỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học”[1,tr.Dverev,1980, cho rằng “PPDH là cách thức hoạt động tƣơng hỗ giữa thày và trò nhằm đạt đƣợc mục đích dạy học. Hoạt động này đƣợc thể hiện trong các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo”[1,tr. Có thể thấy khi định nghĩa về PPDH thì khía cạnh hoạt động tƣơng tác giữa thày và trò là khía cạnh đƣợc nhiều ngƣời quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu hơn cả. Từ đó, có thể hiểu một cách chung nhất, khái quát nhất, PPDH “là tổ hợp các cách thức, biện pháp thực hiện hoạt động hợp tác, tƣơng tác giữa ngƣời dạy và ngƣời học nhằm đạt mục tiêu dạy học”.
Phƣơng pháp dạy học tích cực 8 z * Khái niệm PPDH tích cực PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể mà là một khái niệm rộng bao gồm nhiều phƣơng pháp, hình thức, kĩ thuật cụ thể khác nhau. PPDH tích cực là một khái niệm hƣớng tới việc hoạt động hóa, chủ động hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học, nghĩa là tập trung vào tính chủ động, sáng tạo của ngƣời học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính chủ động của ngƣời dạy. Tuy nhiên, để dạy học theo phƣơng pháp này thì GV phải nỗ lực nhiều so với phƣơng pháp truyền thụ một chiều. Một số nghiên cứu của Biggs(2003), chỉ ra rằng có mối liên hệ chặt chẽ giữa các hoạt động của ngƣời học với hiệu quả học tập.
Tỉ lệ tiếp thu kiến thức của ngƣời học càng tăng cao khi vận dụng càng nhiều giác quan và đặc biệt tỉ lệ tiếp thu kiến thức cao nhất khi đƣợc truyền đạt lại cho ngƣời khác. Để làm nổi bật đặc trƣng của PPDH tích cực xin đƣa ra một số điểm khác biệt giữa PPDH tích cực và PPDH chƣa tích cực nhƣ sau: PPDH chƣa tích cực PPDH tích cực Bản Là quá trình truyền thụ tri thức: Là quá trình GV tổ chức hoạt động chất truyền thụ và chứng minh chân lí nhận thức cho HS. Dạy cho học sinh của GV và lĩnh hội của HS. cách tìm ra chân lí.
Mục Chú trọng cung cấp kiến thức. Chú trọng hình thành các năng lực tiêu để ngƣời học tự chiếm lĩnh tri thức. Phƣơng Thuyết trình của GV là chủ yếu. Trao đổi, thảo luận nhóm, học theo pháp GV độc thoại và phát vấn.
dự án, tƣơng tác GV – HS, GV – HS. KT – GV độc quyền. Kết hợp đánh giá của thầy với tự ĐG đánh giá của trò. Phƣơng pháp đóng vai W.
Shakespare nói “Toàn thế giới là nhà hát.Trong nhà hát có đàn ông, đàn bà. Tất cả đều là diễn viên. Ở họ, đều có lối ra sân khấu và lối vào sân khấu của mình”[11,tr. Nói nhƣ Shakespare có thể hiểu là trong xã hội, mỗi cá nhân hay tập thể đều có vai trò nhất định, giống nhƣ các diễn viên trên sân khấu, 9 z nhƣng các diễn viên trên sân khấu thì nhập vai, hóa thân thành ngƣời khác, sống với vai diễn của mình còn trong sân khấu cuộc đời và sân khấu xã hội, mỗi ngƣời tự thể hiện chính mình với những vị trí, vai trò khác nhau.
Đóng vai, theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê là “thể hiện nhân vật trong kịch bản lên sân khấu hay màn ảnh bằng hành động, nói năng nhƣ thật” Đóng vai mà thông dụng nhất, phổ biến nhất là đóng kịch đã đƣợc sử dụng trong lớp học và cho thấy hiệu quả đạt đƣợc rất cao nếu có sự chuẩn bị chu đáo. Theo tác giả Phan Trọng Ngọ, “Phƣơng pháp đóng kịch trong dạy học là GV cung cấp kịch bản và đạo diễn, học viên hành động theo các vai diễn. Qua đó họ học đƣợc cách suy nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng nhƣ các kỹ năng ứng xử khác của nhân vật trong kịch bản”[19,tr.TS Trần Thị Tuyết Oanh “Đóng kịch là PPDH, trong đó GV tổ chức quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đó nhằm giúp HS hiểu sâu sắc nội dung học tập” [27,tr. 227] Cũng có thể hiểu đóng vai là một trò chơi _ trò chơi đóng vai, trong đó GV đảm nhiệm phần kịch bản, là đạo diễn còn HS sẽ thể hiện các vai diễn đã có trong kịch bản.
Bằng việc nhập vai vào các nhân vật, ngƣời học sẽ chủ động tìm hiểu, hiếm lĩnh kiến thức và đƣợc hoạt động trực tiếp trong suốt hoạt động đóng vai. Hoạt động trực tiếp trong suốt quá trình đóng vai không chỉ giúp ngƣời học khắc sâu kiến thức dễ dàng hơn mà thông qua đó ngƣời học còn có cơ hội hình thành kinh nghiệm cá nhân và cũng có cơ hội để phản ánh dựa trên kinh nghiệm này. Theo các định nghĩa trên thì PPĐV đƣợc vận dụng chủ yếu ở việc GV xây dựng kịch bản và HS là ngƣời thực hiện kịch bản thông qua việc “diễn” các vai có sẵn trong kịch bản. Bên cạnh đó cũng có cách hiểu khác về PPĐV khi HS đảm nhận vai trò sáng tạo kịch bản để giải quyết tình huống mở do GV đƣa ra.
Tài liệu bồi dƣỡng GV thực hiện chƣơng trình, SGK lớp 10 THPT viết: “Đóng vai là phƣơng pháp tổ chức cho ngƣời học thực hành , “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định”. Cơ sở xuất phát của vấn đề * Về mục tiêu giáo dục Thế kỉ XXI mở ra trƣớc mắt nhân loại cùng với xu thế toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã mang lại nhiều thách thức. Một trong những chìa khóa quan trọng để vƣợt qua những thách thức đó là giáo dục. Mục tiêu của giáo dục thế kỉ mới đƣợc phản ánh qua 4 trụ cột giáo dục mới mà Unessco đã đề ra gồm: Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình, học để cùng chung sống.
Học để biết không có nghĩa là học để thu nhận nhiều kiến thức mà là học cách học để phát triển sự tập trung, các kỹ năng ghi nhớ và khả năng tƣ duy. Học để làm không có nghĩa là đào tạo ra những con ngƣời làm những công việc tay chân cụ thể trong một dây truyền sản xuất mà nhằm trang bị cho ngƣời học những kiến thức, kĩ năng và cao hơn nữa là việc áp dụng những kiến thức và kĩ năng đó trong công việc và cuộc sống hàng ngày. Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những ngƣời khác trong mọi hoạt động của con ngƣời. Học để tự khẳng định mình là khẳng định “cái tôi” của mỗi ngƣời có cá tính rất riêng, bản lĩnh riêng, tài năng riêng không lẫn với ngƣời khác.
Để thực hiện đƣợc mục tiêu giáo dục theo tinh thần của Unessco đòi hỏi giáo dục phải có sự thay đổi theo hƣớng phát huy tính tích cực, chủ động của ngƣời học. Các em đƣợc tôn trọng, đƣợc tự do bày tỏ ý kiến cá nhân đồng thời ngƣời thày cần thiết lập mối quan hệ thân mật, gần gũi với học trò, biết lắng nghe và học cách chấp nhận phản hồi của học sinh để hoàn thiện phƣơng pháp giảng dạy. Bên cạnh đó GV cần phải thay đổi từ truyền thụ áp đặt kiến thức sang dạy kĩ năng, dạy thực hành, dạy phƣơng pháp chiếm lĩnh cho học trò. Tuy nhiên, điều dễ nhận thấy của giáo dục Việt Nam hiện nay là cả chƣơng trình và phƣơng pháp giảng dạy của GV đều chƣa thể hiện đƣợc yêu câu nêu trên.
Không khó để nhận ra bên cạnh một số ít HS thực sự năng động, sáng tạo trong học tập, hầu hết HS với lối học thụ động, nhồi nhét, để đối phó với các kì thi vì vậy không thu nhận đƣợc nhiều kiến thức. * Tâm lí lứa tuổi HS THPT Lứa tuổi HS THPT(16 – 18 tuổi) mang những đặc trƣng tâm lý của tuổi thanh niên. Ở giai đoạn chuẩn bị thành ngƣời lớn và có một vị thế xã hội mới, sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này “có nhiều mặt mang tính phức tạp”[14,tr. Trong 11 z phạm vi đề tài xin dẫn chứng hai mặt nổi bật thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ ở lứa tuổi này đó là tƣ duy và ý thức.
Về mặt tƣ duy: Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng ở lứa tuổi này HS có sự thay đổi về tƣ duy. Các em có khả năng tƣ duy lý luận, tƣ duy trừu tƣợng một cách độc lập, chặt chẽ, sáng tạo, có căn cứ và mang tính nhất quán. Ở lứa tuổi này HS có khả năng và ƣa khái quát các vấn đề. Nhờ khả năng khái quát, HS có khả năng tự phát hiện vấn đề “Với các em, điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề đƣợc đặt ra chứ không phải là loại vấn đề nào đƣợc giải quyết.HS cấp III đánh giá các bạn thông minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách thức giải quyết các vấn đề học tập: giải bài tập, phƣơng pháp tƣ duy.
Các em có xu hƣớng đánh giá cao các bạn thông minh và những thày cô có phƣơng pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của HS, phê phán sự gò ép, máy móc trong phƣơng pháp sƣ phạm”[32,tr.Tuy nhiên, việc phát huy đƣợc hết khả năng tƣ duy độc lập, sáng tạo của HS là chƣa nhiều, các em thƣờng đua ra những kết luận khá vội vàng và phần nhiều cảm tính.