Chương 1: Tổng quan về quá trình hình thành làng Thụy Lôi và di tích đền Sái Chương 2: Giá trị lịch sử – văn hóa và kiến trúc đền Sái Chương 3: Bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền Sái 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LÀNG THỤY LÔI VÀ DI TÍCH ĐỀN SÁI 1. Tổng quan về làng Thụy Lôi 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Xã Thuỵ Lâm là một xã lớn và nằm ở phía Đông Bắc của huyện Đông Anh, phía Bắc tiếp giáp với xã Xuân Thu (huyện Sóc Sơn), phía Đông tiếp giáp với xã Yên Phụ và Văn Môn (huyện Yên Phong), phía Nam tiếp giáp với xã Vân Hà và Liên Hà (huyện Đông Anh), phía Tây giáp xã Vân Nộn (huyện Đông Anh). Hiện nay, xã gồm có 11 thôn (khu) với 5 thôn cũ là: thôn Đào Thục, thôn Miếu Cổ, thôn Dâm Biểu, thôn Hương Trầm, thôn Mạnh Tân; 3 khu dân cư từ làng gốc Thuỵ Lôi là: khu 5 Thuỵ Lôi, khu 6 Thuỵ Lôi, khu 7 Thuỵ Lôi và 3 thôn khu dân cư mới hình thành là: thôn Hà Lâm 1, thôn Hà Lâm 2, thôn Hà Lâm 3.
Làng Thụy Lôi nằm dọc theo sông Cà Lồ quanh năm nước chảy, phù sa bồi đắp thường xuyên, làm cho đất đai nơi đây luôn màu mỡ. Do làng có vị trí cạnh sông, vùng đất trũng thấp, luôn chịu nhiều thiên tai lụt lội nên người dân làng Thụy Lôi cũng sớm phải lo đắp đê làm thủy lợi. Từ xưa nhân dân chủ yếu làm ruộng, hàng năm thường trồng các loại cây lương thực như lúa, ngô khoai, lạc đậu… Về địa hình, xã Thụy Lâm nằm trên khu đất bằng phẳng. Xã được hình thành trên vùng đất cổ xứ Kinh Bắc lâu đời.
Phía Đông là kinh đô Cổ Loa – của Thục phán An Dương Vương. Với vị thế có rừng rậm, lại nằm trên trục đường Như Nguyệt – Thăng Long nên mảnh đất này đã để lại nhiều huyền thoại và các sự kiện lịch sử về dựng nước, giữ nước từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Bên cạnh những khu đất bằng phẳng ở xã Thụy Lâm có ngọn núi Sái. Đây được xem là ngọn núi cao nhất của Thất Diệu Sơn.
Trên núi có Cung Kim Khuyết tức đền Sái thờ Đức Huyền Thiên Trấn Vũ – một vị thánh trấn giữ đất Thăng Long với trên 2000 năm lịch sử. Trong cuốn “Thụy Lâm truyền thống lịch sử văn hóa và cách mạng” [11], thời cổ sử, Thụy Lâm là một vùng rừng rậm, đầm lầy. Chứng tích về rừng rậm còn ghi trong câu ca “Bao giờ núi Sái hết cây?”. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng vì vậy khí hậu nơi đây cũng mang tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa.
Với bốn mùa: xuân, hạ, thu đông. Nhiệt độ không khí trung bình từ khoảng 21 – 22 độ C. Mùa đông vào tháng 10 và kết thúc vào khoảng tháng 12. Vào mùa này, nhiệt độ thấp và ở trên núi Sái có thể dưới 50.
Mùa hạ bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 6. Tháng nóng nhất là vào tháng 5, nhiệt độ trung bình vào khoảng 2803. Lượng mưa ở nơi đây cũng tương đối nhiều, trung bình hàng năm vào khoảng 1500 – 2000mm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều trong năm và trong mùa cũng rất là thất thường.
Từ tháng 11 đến tháng 2 thường là mưa nhỏ, mưa phùn, có những năm mưa liên tục và nhiều ngày. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào mùa hè từ tháng 4 tới tháng 6. Thụy Lâm là điểm tiếp giáp giữa ba huyện: Yên Phong, Đông Ngàn và Kim Anh (nay là huyện Sóc Sơn). Sông Cà Lồ chảy qua xã Thụy Lâm và với chiều dài 3,120km là ranh giới tự nhiên xã Thụy Lâm với xã Xuân Thu, đây cũng là ranh giới giữa huyện Đông Anh với huyện Sóc Sơn.
Sông bắt nguồn từ dãy Thằn Lằn ở Tây Bắc tỉnh Phúc Yên cũ, hợp lưu với sông Cầu ở ngã ba Xà (thuộc địa phận xã Vọng Nguyệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Xưa kia, sông là tuyến đường thủy quan trọng để ngược lên vùng núi tỉnh Vĩnh Yên, Tuyên Quang; xuôi về phía Nam xuống Lục Đầu giang ra biển. Tuyến đường đê chạy theo sông cũng sớm được hình thành. Các thôn xóm nằm ở bờ Nam sông Cà Lồ tạo nên hình ảnh “Làng tôi phong cảnh hữu tình; Dân cư đông đúc như hình con long”.
Tuy nhiên, cư dân trong các làng xã Thụy Lâm, trong đó có làng Thụy Lôi không sinh sống dựa vào việc khai thác các nguồn thủy sản của dòng sông để tạo thu nhập lớn. Với vị thế “nhất cận thị, nhì cận giang” do thiên nhiên ban tặng, môi trường sinh thái đặc thù ấy đã có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội của làng Thụy Lôi, ảnh hưởng đến cả đời sống tôn giáo, tín ngưỡng. Lịch sử làng Thụy Lôi Vùng đất cổ Đông Anh đã sớm trở thành địa bàn sinh tụ của cộng đồng cư dân Lạc Việt, nằm kế sát bộ lạc trung tâm cai quản của các Vua Hùng. Lúc này, cộng đồng cư dân được tổ chức trong hình thức quản lý của từng làng xóm và bộ lạc với vai trò đứng đầu của Bồ chính và Lạc tướng.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn Địa Chí Đông Anh viết “Dưới thời An Dương Vương (208 – 179 trước Công nguyên), khu vực Đông Anh hiện nay trở thành trung tâm của nước Âu Lạc với kinh thành Cổ Loa…”[15, tr.138] Từ đó có thể khẳng định các làng xã của huyện Đông Anh, trong đó có Thụy Lôi ngày nay gắn liền với lịch sử dựng nước Văn Lang của cha ông ta từ thời các vua Hùng, được tiếp nối vào thời Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Điều này còn được thể hiện trong các tên Nôm của làng. “Làng Thụy Lôi có tên Nôm là làng Nhội – một loài cây mộc, hoa đỏ thắm. Có lẽ xa xưa, trong khu vực của làng có nhiều cây này nên làng có tên như vậy.
Sau khi người Hán vào nước ta mới phiên âm “Nhội” thành “Lôi”. Tên làng gọi theo âm Hán Việt là “Ma Lôi”. Theo các cụ trong làng, chữ “Ma” có hai nghĩa: một nghĩa là cây ma – một loại cây gai, vỏ có thể làm sợi để dệt vải (phải chăng cái tên đã liên quan đến nghề dệt vải khổ hẹp của làng xưa kia?); một có nghĩa là ma quỷ. Có lẽ khi người Hán vào nghe được chuyện về Thục Phán An Dương vương xây thành Cổ Loa bị ma quỷ quấy nhiễu (Bạch kê tinh) mà họ gọi thành vậy.
Về sau, làng được đổi tên thành Xuân Lôi (sấm ra vào mùa xuân) với ý nghĩa cầu nước, cầu mưa thuận gió hòa của cư dân nông nghiệp lúa nước” [9, tr21]. Trong cuộc kháng chiến chống Tống xâm lược vào cuối thế kỷ 11, làng Thụy Lôi cũng có vị trí quan trọng trong chiến tuyến sông Cầu. Các làng khác thuộc xã Thụy Lâm đến nay vẫn còn lưu truyền câu ca dao phản ánh về việc này: “Đánh giặc thì đánh qua sông Đừng đánh qua đồng nát lúa người ta Đánh giặc thì đánh qua Xà Đừng đánh qua Nhội nát nhà Kẻ Đâm” Hay: “Bên kia dáo trước dáo sau Bên này dáo nứa đánh nhau tơi bời…” Câu ca dao trên đã nêu tên các địa danh đó là Xà (làng Phương La), Nhội (tên nôm của làng Thụy Lôi) và Kẻ Đâm là làng Thư Lâm ngày nay. Dưới triều Lý (1009 – 1225), Trần (1226 – 1400) và Hồ (1400 – 1407) vùng đất này thuộc lộ Bắc Giang.
Từ thời Lê Sơ (1428 – 1527), đơn vị hành chính của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khu vực này nhiều lần thay đổi, lần lượt thuộc Bắc Đạo, từ năm 1466 thuộc về đạo/ thừa tuyên Bắc Giang. Từ năm 1490, vùng đất này thuộc huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, thừa tuyên Kinh Bắc. Từ sau năm 1490, vùng đất này thuộc huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc. Vào đầu thế kỷ 19, Thụy Lôi ngày nay thuộc tổng Phương La, huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc; đến năm Minh Mạng thứ 3 (1822) đổi thành trấn Bắc Ninh; năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi thành tỉnh Bắc Ninh.
Tháng 9 năm Bính Tý đời Tự Đức, triều đình đã cắt ba xã Bằng Lâm, Đào Xá, Xuân Lôi cùng một số tổng thuộc huyện Đông Ngàn và huyện Kim Anh để thành lập ra huyện Đông Anh. Lúc này ba xã Bằng Lâm, Đào Xá, Xuân Lôi thuộc tổng Thư Lâm. Sau một thời gian ngắn, triều đình Huế lại giải thể tổng Thư Lâm, ba xã này lại được chuyển về tổng Xuân Lôi và được đổi tên: xã Đào Xá đổi thành Đào Thục, xã Bằng Lâm đổi thành Thư Lâm, xã Xuân Lôi đổi thành Thuỵ Lôi. Vùng đất Thụy Lôi từ xưa đã được biết tới trong giai thoại với câu đối: “Lác đác mưa sa làng Hạ Vũ Ầm ì sấm dậy đất Xuân Lôi” Sau cách mạng tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân lâm thời được thiết lập theo đơn vị xã cũ.
Đến tháng 4 năm 1946, hai xã Thuỵ Lôi và Thư Lâm hợp nhất thành Đức Hợp, còn xã Đào Thục nằm trong xã Đào Nguyên. Ngày 17 tháng 6 năm 1949, xã Đức Hợp cùng với thôn Đào Thục thuộc xã Đào Nguyên hợp nhất thành xã Tiến Mỹ, sau đó xã Tiến Mỹ lại được đổi tên thành Tiến Bộ. Đến năm 1965, xã Tiến Bộ được đổi tên thành xã Thuỵ Lâm và giữ tên gọi này cho đến ngày nay. Hiện nay làng Thuỵ Lôi là nơi cư tụ của 57 dòng họ khác nhau, với 15 họ Nguyễn, 13 họ Ngô, 11 họ Lê, 4 họ Hoàng, 3 họ Đỗ, 3 họ Trần.Trong đó dòng họ Nguyễn Thạch, Lê Tuấn, Ngọ (nay đổi thành Đỗ Đình) là những dòng họ lâu đời nhất ở làng.
Các dòng họ sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, bên cạnh đó còn có một số nghề phụ như mộc, dệt vải và buôn bán. Đặc điểm về đời sống kinh tế - văn hóa làng Thụy Lôi 1. Đời sống kinh tế 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thụy Lâm là xã thuộc vùng đồng bằng sông Hồng vì vậy người dân làm nông nghiệp chiếm tới 90% dân số toàn xã. Nghề chính của người dân là trồng lúa nước.
Tuy nhiên với một nền nông nghiệp nhỏ, phụ thuộc nhiều về thiên nhiên nên người dân từ xa xưa mà thấp thỏm bao nhiêu thứ: “Trông trời, trông đất, trông mây Trông mây, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển nặng mới yên tấm lòng” (Ca dao) Khi có hạn hán kéo dài thì làm lễ cầu mưa, mưa lụt thì làm lễ tế thủy thần, sâu phá lúa thì làm lễ tiễn trùng.