Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm Văn hóa: có rất nhiều khái niệm về văn hóa đã và đang được sử dụng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên ở từng giai đoạn thì khái niệm về văn hóa được xét ở những khía cạnh khác nhau. “Thế kỷ XIX các nhà Nhân học phương tây xem văn hóa là thành tựu đỉnh cao trong sự sáng tạo của con người và người đưa ra khái niệm văn hóa đầu tiên đó là nhà nhân học người Anh E.
Trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture) xuất bản tại Luân đôn năm 1871, ông đã mô tả: Văn hóa là toàn bộ phức thể, bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”, dẫn trích theo Trần Quốc Vượng [53; tr 18]. Năm 1982, UNESCO đã nhìn nhận văn hóa theo cách rộng “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những hệ thống các giá trị, tập tục và tín ngưỡng” [26; tr 15]. Ở Việt Nam cũng có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đưa ra khái nệm về văn hóa của mình.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái niệm về văn hóa “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài n gười mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, pháp luật, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [31; tr 431]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng tất cả những gì do con người sáng tạo ra đều là văn hóa và nó phục vụ lại đời sống con người. 13 Trong nghiên cứu của mình Trần Quốc Vượng cũng đã nêu nhân định về văn hóa theo giá trị chuẩn mực xã hội “Văn hóa là toàn bộ sự hiểu biết của con người tích lũy được trong quá trình hoạt động thực tiễn - lịch sử được đúc kết thành các giá trị và chuẩn mực xã hội, gọi chung là hệ giá trị xã hội biểu hiện thông qua vốn di sản văn hóa và hệ ứng xử của cộng đồng” [54; tr 16].
Về sau có rất nhiều khái niệm về văn hóa được các nhà nghiên cứu khoa học nêu ra. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy khái niệm về văn hóa của Trần Ngọc Thêm là tương đối gần với nội dung của đề tài. “Văn hóa là một thể thống nhất hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [44; tr 10]. Theo đó tất cả những sản phẩm do con người tạo ra đều có liên quan với nhau tạo nên sự gắn kết mật thiết trong cuộc sống, đó là ngôi nhà chung mà người dân ở làng Điều Hòa xưa (thành phố Mỹ Tho ngày nay) gọi là đình đã được những Tiền hiền đã có công trong việc khai khẩn tạo nên.
Tất cả những sản phẩm ấy đã tạo nên những giá trị đặc trưng cho ngôi làng và xem đây là trung tâm, là nơi sinh hoạt, giao lưu của mọi người dân làng Điều Hòa xưa, đồng thời tạo nên một nét văn hóa truyền thống đã và đang được người dân nơi đây gìn giữ. Nhìn chung, các khái niệm về văn hóa của các nhà nghiên cứu đều chứa đựng những giá trị thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn đều hướng văn hóa về hai mặt đó là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể). Văn hóa vật thể: Trong mục 2, điều 4 Luật Di sản văn hóa (2013) có nêu khái niệm về văn hóa vật thể “Văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
Qua đó cho thấy đình Điều Hòa là di tích có những giá trị vật thể đặc trưng của Mỹ Tho. Nó được thể hiện qua mô -tip, đường nét trang trí hoa văn trên 14 các bao lam, hay các vật thờ được trang trí trên các bàn thờ đã và đang được gìn giữ đến nay. Văn hóa phi vật thể: Trong mục 1, điều 4 Luật Di sản văn hóa (2013) có nêu khái niệm về văn hóa phi vật thể “Văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác”. Lễ hội ở đình Điều Hòa được tổ chức hàng năm đã góp phần làm nên nét văn hóa tinh thần riêng biệt cho người dân thành phố Mỹ Tho.
Trong khuôn khổ của đề tài tác giả nghiên cứu về những nét văn hóa cùng sự lưu truyền và sự thay đổi của đình. Mặc dù hai khái niệm riêng biệt nhưng trong thực tế đôi khi cũng khó tách biệt rạch ròi sự riêng biệt ấy, vì bản thân những trường hợp đó vừa có giá trị về vật chất vừa có giá trị về tinh thần. Giá trị văn hóa: Theo Từ điển Tiếng Việt giá trị văn hóa được xem như là “cái làm cho mọi vật có ích, có lợi, có ý nghĩa, là cái đáng quý về mặt nào đó” [39; tr 371]. Bất cứ những gì mà con người làm ra đều có giá trị và nó phục vụ đời sống của con người.
Một cách nhìn nhận khác về giá trị đó là “Giá trị là một phạm trù triết học, xã hội học chỉ có tính có ích, có ý nghĩa của sự vật hiện tượng tự nhiênhay xã hội, có khả năng phục vụ nhu cầu lợi ích của con người” [40; tr 97]. Trong các giá trị ấy đều chứa đựng những nhận thức, yếu tố tình cảm, hành động hay chuẩn mực, những biểu tượng văn hóa của cộng đồng, của dân tộc. Vì thế giá trị văn hóa của dân tộc rất đa dạng và phong phú, nó phản ánh sự đang dạng của lịch sử, môi trường, sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của dân tộc, địa phương. Theo Ngô Đức Thịnh, giá trị văn hóa (Cultural Value) do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị đã hình thành thì nó 15 lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy” [45; tr 33].
Tại điều 1 Luật Di sản (2013) đã nhấn mạnh “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần và vật chất, có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo đó tất cả những gì do con người làm ra đều có giá trị và được lưu truyền lại cho các thế hệ sau. Mỗi dân tộc bất kỳ ở đâu đều có hoàn cảnh lịch sử, những nét văn hóa đặc trưng riêng biệt của dân tộc ấy. Vì thế họ đã tạo ra những giá trị văn hóa cho riêng mình.
Di tích: Trong Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cho rằng có hai cách hiểu về di tích: Một là “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khảo cổ học nghiên cứu”, hai là “di sản văn hóa lịch sử bất động: di sản văn hóa” [56; tr 414]. Và trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ các tác giả có đề cập về di tích một cách ngắn gọn “Di tích là dấu vết xưa còn lại” [51; tr 222]. Về mặt quản lý nhà nước, di tích được nêu tại mục 3 điều 4 Luật Di sản văn hóa (2013) như sau “Di tích lịch sử- văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học”. Đình Điều Hòa đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích cấp quốc gia.
Có thể nói đây là di tích gắn bó với đời sống, là nơi thể hiện nét văn hóa đặc trưng của người dân Mỹ Tho hơn hai thế kỷ qua, nó là cầu nối trong mọi thời đại. Lễ hội: “Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp, phản ánh những đặc trưng văn hóa của tộc người được tiến hành định kỳ ở một địa điểm, thời gian nhất định, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của các thành viên trong cộng đồng” [17; tr 12]. Cuộc sống của người dân luôn có những khoảng nhu cầu của tinh thần lẫn vật chất, và 16 các nhu cầu tinh thần ấy phần nào được đáp ứng thông qua các lễ hội tại địa phương, đó là hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, phong tục, lối sống… Bên cạnh đó, Nguyễn Trọng Báu cũng chia lễ hội làm hai phần: “Biểu hiện tâm linh của con người, một cách thể hiện lòng tôn kính của con người đối với tinh thần và đồng thời phản ánh những ước mơ tốt đẹp của cộng đồng, vươn tới những gì mà cộng đồng chưa thể làm được, phần này gọi là lễ”, và “lễ hội còn là sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng đồng làng xã hay lớn hơn là liên làng liên xã, tổng và cộng đồng của toàn vùng, của cả nước, phần này gọi là hội” [6; tr 226]. Theo cách nhìn nhận trên, lễ hội luôn có hai phần lễ và hội, tuy nhiên trên thực tế cũng có một số nghi lễ chỉ có phần lễ không có phần hội.
Vì vậy có thể xem lễ hội là một dạng sinh hoạt văn hóa tổng hợp, là nhu cầu văn hóa chính đáng của một cộng đồng người.