Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu các di tích lịch sử văn hoá ở huyện Đông Triều – Quảng Ninh phục vụ cho phát triển du lịch" do sinh viên Nguyễn Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đào Thị Thanh Mai (Khoa Văn hóa Du lịch, Trường Đại học Dân Lập Hải Phòng). Đề tài bắt nguồn từ bối cảnh ngành du lịch hiện đại đang đóng vai trò là ngành kinh tế tổng hợp, công nghiệp không khói mũi nhọn, đồng thời nhu cầu trở về cội nguồn và khám phá các giá trị văn hóa truyền thống của du khách ngày một gia tăng.
Tại Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, nguồn tài nguyên du lịch nhân văn rất phong phú. Tuy nhiên, thực tế phát triển du lịch tại Quảng Ninh trong giai đoạn nghiên cứu tập trung phần lớn vào du lịch biển, nghỉ dưỡng và thể thao gắn với các địa danh như Vịnh Hạ Long, biển Trà Cổ hay Bãi Dài. Mảng du lịch văn hóa chưa nhận được sự quan tâm và đầu tư tương xứng. Đông Triều là huyện cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, sở hữu mật độ di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh lớn nhất trong toàn tỉnh, đồng thời là quê gốc của vương triều Trần và căn cứ của Đệ tứ chiến khu. Mặc dù vậy, hoạt động khai thác du lịch tại các điểm di tích ở Đông Triều vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị của hệ thống di tích chưa được phát huy đầy đủ.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Tìm hiểu các vấn đề lý luận chung về tài nguyên du lịch nhân văn.
- Khảo sát, tìm hiểu và giới thiệu toàn diện các giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật của hệ thống di tích tiêu biểu trên địa bàn huyện Đông Triều.
- Đề xuất các nhóm giải pháp với ngành du lịch và các cơ quan hữu quan của tỉnh Quảng Ninh cũng như huyện Đông Triều nhằm bảo tồn và nâng cao hiệu quả khai thác di tích phục vụ phát triển du lịch.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa tại huyện Đông Triều, cùng thực trạng công tác bảo tồn, khai thác các di tích này cho hoạt động du lịch. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tập trung vào địa bàn huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh), giới hạn ở các di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Tác giả xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống khái niệm chuẩn mực về du lịch và văn hóa từ các văn kiện pháp lý và tài liệu chuyên ngành:
- Khái niệm và chức năng du lịch: Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ("tornus"), chuyển tự sang tiếng La-tinh, tiếng Pháp ("tourisme") và tiếng Anh ("tourism"); trong Hán-Việt, "du" mang nghĩa đi chơi, "lịch" mang nghĩa từng trải. Khóa luận dẫn chiếu định nghĩa của Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Roma (1963), định nghĩa theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966), định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO, 1990) và Luật Du lịch Việt Nam (2005). Hoạt động du lịch được xác định có bốn chức năng cơ bản: chức năng xã hội, chức năng kinh tế, chức năng sinh thái và chức năng chính trị.
- Khái niệm và đặc trưng văn hóa: Từ nguyên "văn hóa" xuất hiện từ thời Tây Hán trong sách Thuyết uyển của Lưu Hướng (mang hàm ý giáo hóa bằng văn đức), và phương Tây bắt nguồn từ gốc La-tinh "colere" chuyển thành "cultura" (mang nghĩa vun trồng tinh thần theo Cicero). Tác giả tổng hợp các góc nhìn định nghĩa từ công trình của A. Kluckhohn (1952, thống kê 164 định nghĩa), PGS. Phan Ngọc (1994, dẫn gần 400 định nghĩa), GS. Trần Ngọc Thêm, UNESCO (2002) và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hệ thống văn hóa gồm bốn đặc trưng: tính hệ thống (thực hiện chức năng tổ chức xã hội), tính giá trị (chức năng điều chỉnh xã hội), tính nhân sinh (chức năng giao tiếp) và tính lịch sử (chức năng giáo dục, tích lũy truyền thống).
- Phân loại di sản văn hóa: Văn hóa vật thể bao gồm di chỉ khảo cổ, di tích lịch sử - văn hóa, di tích văn hóa nghệ thuật, di tích lịch sử cách mạng và danh lam thắng cảnh. Văn hóa phi vật thể bao gồm lễ hội (cấu thành bởi phần lễ và phần hội), văn hóa nghệ thuật, thơ ca - văn học, văn hóa ẩm thực, phong tục tập quán và văn hóa ứng xử.
Để thực hiện đề tài, tác giả áp dụng bốn phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu thực địa: Trực tiếp điền dã, khảo sát cấu trúc không gian, hiện trạng kiến trúc và hiện vật tại các điểm di tích ở Đông Triều.
- Phương pháp phỏng vấn: Trao đổi với cán bộ quản lý văn hóa địa phương, thủ từ, ban quản lý di tích và các bậc cao niên am hiểu lịch sử.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích: Xử lý hệ thống lý thuyết, xâu chuỗi các nguồn sử liệu thành văn và dữ liệu quản lý ngành.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Khai thác tư liệu hành chính, niên giám thống kê và văn bia di tích.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong khóa luận bao gồm tài liệu hành chính do Phòng Văn hóa huyện Đông Triều cung cấp, số liệu Tổng điều tra dân số năm 2008 của huyện, cùng hệ thống thư tịch cổ và văn bia lịch sử như: Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Lĩnh Nam chích quái, Trần triều lăng tẩm đồ mạn ký, Trần Triều thánh tổ các xứ địa đồ và các văn bia thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn hiện còn tại di tích.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát chung về văn hoá và du lịch
Chương I tập trung làm sáng tỏ các khái niệm bản lề và mối quan hệ hữu cơ giữa văn hóa và du lịch. Du lịch không chỉ đơn thuần là hiện tượng di chuyển cư trú tạm thời ngoài nơi ở thường xuyên nhằm mục đích giải trí, tìm hiểu, nghỉ dưỡng mà còn là một ngành kinh tế tổng hợp đem lại nguồn thu ngoại tệ, kích thích tái sản xuất sức lao động và thay đổi hạ tầng kinh tế - xã hội.
Văn hóa đóng vai trò là nền tảng, cung cấp tài nguyên nhân văn cốt lõi để hình thành nên các sản phẩm du lịch đặc sắc. Chương này khẳng định du lịch văn hóa mang lại giá trị gia tăng xã hội to lớn, là phương thức giúp điều chỉnh, bảo tồn, phục hồi và quảng bá di sản dân tộc, đồng thời giúp du khách và cộng đồng sở tại nâng cao lòng tự hào truyền thống.
Chương II: Hiện trạng các di tích lịch sử văn hoá ở Đông Triều - Quảng Ninh
Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện điều kiện địa lý, lịch sử và giá trị thực tế của hệ thống di tích trên địa bàn huyện Đông Triều.
1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Đông Triều
- Địa lý và tài nguyên: Huyện nằm ở tọa độ 21°01' đến 21°13' vĩ độ Bắc, 106°26' đến 106°43' kinh độ Đông; diện tích tự nhiên 402 km²; cách thành phố Hạ Long 78 km và cách Hà Nội 90 km. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23,4°C, độ ẩm 81%, lượng mưa trung bình 1.809 mm/năm. Hệ thống thủy văn có sông Vàng Chua, sông Đạm Thủy, sông Kỳ Cầm, sông Tràng Bảng, sông Tiên Yên; sở hữu 14 hồ đập với các hồ tiêu biểu: hồ Khe Chè (11,35 triệu m³), hồ Bến Châu (7,9 triệu m³), hồ Trại Lốc (4,7 triệu m³); trữ lượng khai thác nước ngầm ước đạt trên 1.500 m³/ngày đêm. Tài nguyên khoáng sản nổi bật với mỏ than Mạo Khê - Tràng Bạch trữ lượng 1,6 tỷ tấn (trữ lượng khai thác 877 triệu tấn), mở mỏ từ năm 1820 dưới thời vua Minh Mệnh. Đất nông nghiệp chiếm 9.701 ha (trong đó đất ruộng cấy và trồng màu đạt 6.590 ha).
- Dân cư và lịch sử: Theo số liệu Tổng điều tra năm 2008, dân số huyện là 156.959 người (nam: 77.066 người, chiếm 49,1%; nữ: 79.893 người, chiếm 50,9%); số người trong độ tuổi lao động là 81.350 người (51,8%); số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6.540 người; mật độ dân số trung bình 395 người/km² trên 21 đơn vị hành chính (2 thị trấn, 19 xã). Thành phần gồm 9 dân tộc: người Kinh chiếm 97,5%, người Tày 1,4%, người Hoa 0,5%, người Sán Dìu 0,5%, phần còn lại là người Sán Chay, Nùng, Dao, Mường, Thái.
- Về lịch sử, Đông Triều là vùng đất cổ, thời Bắc thuộc thuộc Châu Giao, thời Trần thuộc phủ Tân Hưng, thời Hậu Lê thuộc phủ Kinh Môn. Đất này ghi dấu cuộc khởi nghĩa của nữ tướng Lê Chân năm 39-40, trận chiến Bạch Đằng năm 1288, là nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên ở Quảng Ninh tại Mạo Khê ngày 23/2/1930, nơi ra đời Đệ tứ chiến khu (Chiến khu Trần Hưng Đạo) ngày 8/6/1945 và sự kiện 73 du kích hy sinh tại hang núi Canh xã Yên Đức ngày 3/12/1950.
2. Khảo cứu hệ thống di tích tiêu biểu
- Chùa Quỳnh Lâm (xã Tràng An): Xếp hạng Di tích lịch sử - nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 2009/QĐ ngày 15/11/1991. Chùa tọa lạc trên núi Tiên Du, dựng từ thời tiền Lý, tôn tạo quy mô lớn thời Lý - Trần dưới sự chủ trì của Thiền sư Pháp Loa (ông tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm). Năm 1316, Pháp Loa lập Viện Quỳnh Lâm - trường đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam; năm 1325 tổ chức hội Thiên Phật kéo dài 7 ngày 7 đêm; năm 1329 xây dựng lại quy mô lớn. Năm 1947, chùa bị chiến tranh tàn phá hoàn toàn. Hiện vật còn lưu giữ: tấm bia đá thời Lý cao 2,5 m chạm rồng mềm mại; thành bậc rồng bằng đá xanh thời Trần; góc bệ đá chạm hình chim thần Garuda; các bảo tháp ghép mộng đá xanh; bia đá thời Lê chạm chân dung bà Hậu Phật Bùi Thị Thao; lễ hội tổ chức từ mồng 1 đến mồng 4 tháng 2 âm lịch.
- Chùa Ngọa Vân (xã Bình Khê): Xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 55/2006/QĐ-BVHTT ngày 29/5/2006. Tọa lạc trên núi thuộc dãy Yên Tử, cách Trại Lốc 10 km. Đây là nơi Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tu hành và viên tịch năm 1308. Kiến trúc 3 lớp gồm Am Ngọa Vân (kết cấu chữ "nhất", đặt tượng đồng Trần Nhân Tông nằm đọc sách - hiện tượng đã mất); chùa Thiên Sơn (diện tích 27,2 m², kết cấu chữ "nhất"); phía trước có tháp Đoạn Nghiêm và tháp Phật Hoàng (tháp ghép mộng đá ba tầng, bia đá năm Minh Mệnh thứ 21 - 1840 khẳng định lăng mộ Trần Nhân Tông).
- Chùa Hồ Thiên (núi Phật Sơn, dãy Yên Tử): Xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia theo Quyết định số 56/2006/QĐ-BVHTT ngày 29/5/2006. Dựng từ thời Trần, nằm trong quần thể Quỳnh Lâm - Yên Tử. Kiến trúc chữ "đinh" gồm 7 gian tiền đường (dài 26 m, rộng 11 m) và 3 gian hậu cung. Vườn tháp phía sau có tháp đá xanh 7 tầng cao 8,6 m, ghép mộng đá thớ mịn, đỉnh tháp đặt bình nước cam lồ, lòng tháp có tảng đá vuông chạm hình bát quái và 72 cánh sen. Nhà bia chữ "đinh" có bia đá xanh cao 2,76 m dựng năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) triều vua Lê Ý Tông, khắc bài văn bia ca ngợi cảnh trí và bài thơ ngự chế của chúa Trịnh Cương.
- Chùa Bắc Mã (xã Bình Dương): Tên chữ là Phúc Chí Tự, khuôn viên rộng 3 mẫu đất, xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia theo Quyết định số 2379 QĐ/BT ngày 5/9/1994. Bia đá năm Long Đức thứ 2 (1733) ghi nhận lịch sử trùng tu. Chùa có kiến trúc chữ "đinh" (5 gian tiền đường, 2 gian hậu cung), cột gỗ lim đường kính 40 cm. Chùa là căn cứ cách mạng: đầu năm 1945 sư Tuệ (đồng chí Nguyễn Kiên Tranh), Nguyễn Bình, Trần Cung lập căn cứ; thành lập tiểu đội vũ trang đầu tiên và mở lớp huấn luyện chính trị cho 50 học viên. Đêm 7/6/1945, quân cách mạng xuất quân từ chùa Bắc Mã đánh hạ các đồn lính, tiến tới thành lập Đệ tứ chiến khu ngày 8/6/1945. Lễ hội hàng năm diễn ra vào ngày 8/6.
- Chùa Mỹ Cụ (xã Hưng Đạo): Tên chữ là Sùng Khánh Tự, tọa lạc trên sườn núi Chè cao 20 m. Xếp hạng Di tích nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 13/2000-QĐ-BVHTT ngày 28/7/2000. Chùa xây từ thời Trần dưới thời Pháp Loa, trùng tu lớn năm Tự Đức thứ 11 (1858) với quy mô tiền đường 11 gian, hành lang tả hữu mỗi bên 3 gian, hậu đường 5 gian. Hiện vật gồm hệ thống tượng gỗ thời Tây Sơn và thời Nguyễn; bệ tượng cánh sen thời Trần; chuông đồng đúc năm Gia Long thứ 18 (1819); chiêng đồng đúc mùa đông năm Minh Mệnh thứ 6; 5 tấm bia đá thời Lê, Tây Sơn, Nguyễn. Lễ hội từ ngày 10 đến 12 tháng giêng âm lịch.
- Chùa Nhuệ Hổ (xã Kim Sơn): Tên chữ là Quảng Phúc Tự, lịch sử khoảng 400 năm, được UBND tỉnh Quảng Ninh xếp hạng Di tích nghệ thuật theo Quyết định số 300/QĐ/UB ngày 9/2/2001. Kiến trúc chữ "đinh" (5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung). Chùa còn lưu giữ 98 hiện vật quý, trong đó có 15 pho tượng thời Lê (nổi bật là tượng A Di Đà cao 145 cm, rộng vai 60 cm - pho tượng A Di Đà thời Lê lớn nhất trong các chùa còn lại ở Quảng Ninh), 4 tượng thời Tây Sơn, 2 tượng thời Nguyễn và các bia đá năm Chính Hòa thứ 17 (1696), Cảnh Thịnh thứ nhất (1793), Minh Mệnh thứ 14 (1833) và Minh Mệnh thứ 20 (1839). Lễ hội từ ngày 20 đến 23 tháng giêng âm lịch.
- Khu di tích lăng mộ vua Trần và Đền An Sinh (xã An Sinh, Đạm Thủy): Đông Triều là quê gốc của vương triều Trần, nơi An Sinh Vương Trần Liễu lập ấp. Sau khi các lăng mộ ban đầu ở Thái Bình bị quân Chiêm Thành đe dọa, nhà Trần dời lăng về Đông Triều, lập nên khu lăng Tư Phúc gồm:
- Thái Lăng (Đồng Thái): An táng Thượng hoàng Trần Anh Tông (táng tháng 12 năm 1320) và Bảo Từ hoàng thái hậu; cấu trúc gò đồi vuông 61 m, chia 3 lớp.
- Mục Lăng (Đồng Mục): An táng Thượng hoàng Trần Minh Tông (xây dựng năm 1357), kết cấu 3 nền, có thềm đá lân đá.
- Phụ Lăng (Phụ Sơn): An táng vua Trần Dụ Tông (xây dựng năm 1369), cấu trúc 3 nền.
- Ngải Lăng (Ngải Sơn): An táng vua Trần Hiến Tông (táng năm 1344), có tượng thú đá và người đá.
- Nguyên Lăng: An táng vua Trần Nghệ Tông (mất năm 1394) và phụ táng vua Giản Định Đế.
- Hy Lăng (Đồng Hy): Táng mộ giả vua Trần Duệ Tông; lăng vua Trần Thuận Tông tại Đạm Thủy.
- Đền An Sinh (thôn Nghĩa Hưng, xã An Sinh): Rộng khoảng 80 ha, lối chữ "tam" (tiền đường, bái đường, hậu cung), thờ 8 vị vua Trần ("Trần triều bát vị hoàng đế") và thờ Khổng Tử; khuôn viên có 14 cây đại tượng trưng cho 14 đời vua Trần, 8 cây vạn tuế tượng trưng cho 8 vị vua an táng tại đây. Di tích được Bộ Văn hóa xếp hạng cấp Quốc gia theo Quyết định số 213 QĐ/VH ngày 28/4/1962, tái thiết năm 1987.
- Đền An Biên (xã Thủy An): Tọa lạc bên sườn núi Vẻn, lập năm 40 để phụng thờ nữ tướng Lê Chân (sinh ngày 8/2 năm 18 tại làng Vẻn, tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng, được phong Thánh Chân công chúa, chưởng quản binh quyền kiêm trấn thủ vùng ven biển). Kiến trúc gồm 3 gian bái đường, 1 gian hậu cung mái chồng diêm, trong khuôn viên có cây đa do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trồng lưu niệm.
| Tên di tích |
Địa bàn hành chính |
Niên đại khởi dựng / Trùng tu chính |
Cấp độ và năm xếp hạng |
Hiện vật / Dấu ấn kiến trúc đặc trưng |
| Chùa Quỳnh Lâm |
Xã Tràng An |
Tiền Lý; thế kỷ XIV (Pháp Loa); thế kỷ XVIII |
Cấp Quốc gia (QĐ 2009/QĐ ngày 15/11/1991) |
Bia đá thời Lý (2,5 m); bệ đá chim thần Garuda; bia Hậu Phật Bùi Thị Thao |
| Chùa Ngọa Vân |
Xã Bình Khê |
Thời Trần (Trần Nhân Tông viên tịch 1308) |
Cấp Quốc gia (QĐ 55/2006/QĐ-BVHTT ngày 29/5/2006) |
Am Ngọa Vân, chùa Thiên Sơn (27,2 m²), Đoạn Nghiêm tháp, Phật Hoàng tháp |
| Chùa Hồ Thiên |
Xã Phú Ninh (núi Phật Sơn) |
Thế kỷ XIII (thời Trần); năm 1736 thời Lê |
Cấp Quốc gia (QĐ 56/2006/QĐ-BVHTT ngày 29/5/2006) |
Tháp đá xanh 7 tầng (8,6 m); bia đá Lê Ý Tông (2,76 m) khắc thơ Trịnh Cương |
| Chùa Bắc Mã |
Xã Bình Dương |
Khoảng 600 năm; trùng tu 1733, 1926 |
Cấp Quốc gia (QĐ 2379 QĐ/BT ngày 5/9/1994) |
Căn cứ Đệ tứ chiến khu; bia đá thời Lê Thuần Tông; nhà truyền thống lịch sử |
| Chùa Mỹ Cụ |
Xã Hưng Đạo |
Thời Trần; trùng tu lớn năm 1858 |
Cấp Quốc gia (QĐ 13/2000-QĐ-BVHTT ngày 28/7/2000) |
Chuông đồng 1819; chiêng đồng Minh Mệnh thứ 6; hệ thống tượng gỗ Tây Sơn - Nguyễn |
| Chùa Nhuệ Hổ |
Xã Kim Sơn |
Khoảng 400 năm; trùng tu 1696 |
Cấp Tỉnh (QĐ 300/QĐ/UB ngày 9/2/2001) |
98 hiện vật; pho tượng A Di Đà thời Lê lớn nhất Quảng Ninh (cao 145 cm) |
| Đền An Sinh & Lăng mộ vua Trần |
Xã An Sinh, Đạm Thủy |
Thế kỷ XIV (nhà Trần); trùng tu 1987 |
Cấp Quốc gia (QĐ 213 QĐ/VH ngày 28/4/1962) |
Quần thể lăng mộ 8 vua Trần; bia đá thời Lê - Nguyễn; 14 cây đại, 8 cây vạn tuế |
| Đền An Biên |
Xã Thủy An |
Khởi dựng năm 40 |
Di tích địa phương theo văn bản |
Thờ nữ tướng Lê Chân; kiến trúc chồng diêm; cây đa Đại tướng Võ Nguyên Giáp |
Chương III: Một số giải pháp và kiến nghị
Căn cứ vào mục tiêu và định hướng đề xuất được tác giả xác định trong công trình, chương này quy tụ các kiến nghị:
- Hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể và cắm mốc khoanh vùng bảo vệ cho toàn bộ hệ thống di tích xếp hạng trên địa bàn huyện Đông Triều; ngăn chặn tình trạng xâm lấn đất di tích và phế tích.
- Huy động nguồn lực tu bổ, tôn tạo các công trình xuống cấp nghiêm trọng (như phế tích Am Ngọa Vân, chùa Hồ Thiên, hệ thống lăng miếu vua Trần) dựa trên cơ sở bảo tồn tối đa yếu tố nguyên gốc.
- Đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng giao thông kết nối liên xã, đặc biệt là các tuyến đường dẫn vào vùng núi Yên Tử, Hồ Thiên, Ngọa Vân nhằm tạo điều kiện tiếp cận thuận tiện cho các phương tiện vận chuyển khách du lịch.
- Liên kết tour tuyến du lịch văn hóa tâm linh liên vùng, kết nối chuỗi di tích Đông Triều với Quần thể di tích danh thắng Yên Tử (thị xã Uông Bí) và vùng di tích huyện Chí Linh, Kinh Môn (tỉnh Hải Dương).
- Tăng cường công tác đào tạo nghiệp vụ thuyết minh viên tại điểm, biên soạn ấn phẩm quảng bá về lịch sử văn hóa địa phương nhằm giáo dục truyền thống và đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của du khách.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả khảo sát định lượng và thông số kỹ thuật: Khóa luận đã hệ thống hóa các chỉ số cụ thể về tự nhiên và xã hội của Đông Triều (diện tích 402 km², dân số 156.959 người với 51,8% trong độ tuổi lao động, 9 dân tộc; trữ lượng than 1,6 tỷ tấn; hệ thống 14 hồ đập). Tác giả đã thống kê, đo đạc và ghi nhận chi tiết quy mô của các di tích: diện tích chùa Thiên Sơn (27,2 m²), kích thước tiền đường chùa Hồ Thiên (dài 26 m, rộng 11 m), chiều cao tháp đá Hồ Thiên (8,6 m cả chóp gồm 7 tầng với bệ đá 72 cánh sen), kích thước bia đá chùa Hồ Thiên (cao 2,76 m) và số lượng 98 hiện vật cổ tại chùa Nhuệ Hổ (trong đó pho tượng A Di Đà thời Lê đạt chiều cao 145 cm).
- Đóng góp về tư liệu lịch sử - văn hóa: Tác giả đã dịch thuật, trích dẫn nhiều đoạn văn bia Hán Nôm và ghi chép trong thư tịch cổ (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Trần triều lăng tẩm đồ mạn ký), qua đó chứng minh cụ thể vị thế quê gốc vương triều Trần của đất An Sinh - Đông Triều, đồng thời ghi nhận chính xác dấu mốc xây dựng Viện Quỳnh Lâm năm 1316 của Pháp Loa như một trường đại học Phật giáo đầu tiên của Đại Việt.
- Đóng góp về mặt thực tiễn du lịch: Công trình đã làm rõ khoảng trống giữa tiềm năng phong phú của các di tích lịch sử xếp hạng cấp quốc gia với thực trạng khai thác du lịch văn hóa còn manh mún tại Đông Triều, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và các đơn vị lữ hành thiết lập tuyến điểm du lịch nhân văn bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Khóa luận chủ yếu tiếp cận theo hướng mô tả địa chí, lịch sử nghệ thuật và khảo sát thực địa; thiếu vắng dữ liệu điều tra định lượng về hành vi, cơ cấu chi tiêu hay mức độ hài lòng của du khách đến Đông Triều.
- Số liệu thống kê dân sinh, kinh tế trong văn bản căn cứ vào kỳ Tổng điều tra năm 2008 nên chưa phản ánh được các biến động hạ tầng kinh tế trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
- Các giải pháp phát triển du lịch tại Chương III phần lớn mang tính định hướng khung chính sách quản lý nhà nước, chưa đi sâu vào bài toán kinh tế du lịch cụ thể hay phân tích thị trường khách mục tiêu.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Thực hiện các khảo sát xã hội học định lượng về nhu cầu và thị hiếu của thị trường khách đối với loại hình du lịch tâm linh, văn hóa tại huyện Đông Triều.
- Nghiên cứu xác định sức chứa du lịch sinh thái - tâm linh tại các điểm di tích nằm trên vùng núi cao nhạy cảm về môi trường như Am Ngọa Vân và chùa Hồ Thiên.
- Xây dựng mô hình chuỗi sản phẩm du lịch liên kết vùng kết hợp giữa di tích lịch sử triều Trần với các làng nghề gốm sứ truyền thống (Đông Triều, Mạo Khê) và vùng sinh thái nông nghiệp trên địa bàn huyện.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng phù hợp:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Văn hóa học, Du lịch học, Lịch sử, Quản lý văn hóa đang thực hiện khóa luận, đề tài nghiên cứu về du lịch nhân văn hoặc địa chí Quảng Ninh.
- Cán bộ quản lý văn hóa - du lịch huyện Đông Triều và tỉnh Quảng Ninh làm tài liệu tham khảo cho công tác quy hoạch, quản lý di tích.
- Doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên du lịch khai thác các tuyến du lịch chuyên đề về cội nguồn nhà Trần, Thiền phái Trúc Lâm hoặc di tích Đệ tứ chiến khu.
- Nội dung giá trị nhất trong tài liệu:
- Hệ thống miêu tả chi tiết về cấu trúc kiến trúc, kích thước hình học và văn khắc Hán Nôm của Chùa Hồ Thiên và Chùa Quỳnh Lâm.
- Dữ liệu chi tiết về vị trí, lịch sử xây dựng và cấu trúc 3 nền của hệ thống lăng mộ các vị vua triều Trần (Thái Lăng, Mục Lăng, Phụ Lăng, Ngải Lăng, Nguyên Lăng).
- Biên niên sự kiện lịch sử về quá trình thành lập Đệ tứ chiến khu tại chùa Bắc Mã và đình Hồ Lao tháng 6/1945.
Câu hỏi thường gặp
1. Thiền sư Pháp Loa đã có những đóng góp cụ thể nào đối với chùa Quỳnh Lâm theo ghi chép trong văn bản?
Năm 1314, Thiền sư Pháp Loa cho xây dựng 33 cơ sở điện thờ Phật và gác chứa kinh tại chùa. Đến năm 1316, ông cho thành lập "Viện Quỳnh Lâm" – trường đại học Phật giáo đầu tiên của nước ta. Dưới thời kỳ này, chùa Quỳnh Lâm trở thành trung tâm Phật giáo quy mô lớn với 2.000 mẫu ruộng và hơn 1.000 gia nô. Năm 1325, ông tổ chức hội Thiên Phật kéo dài 7 ngày 7 đêm, và đến năm 1329 tiếp tục đại trùng tu ngôi chùa thành công trình kiến trúc hoàn chỉnh, đồ sộ.
2. Tháp đá tại Chùa Hồ Thiên có kích thước và đặc điểm điêu khắc như thế nào?
Tháp đá xanh tại chùa Hồ Thiên gồm 7 tầng, có chiều cao tổng thể 8,6 m (tính cả chóp), được ghép mộng bằng các phiến đá xanh to thớ mịn. Khoảng cách giữa các tầng tháp được rút ngắn và thu nhỏ dần 10 cm mỗi tầng, bốn mặt mỗi tầng mở 4 cửa vòm cuốn thông nhau, diềm mái chạm nổi hai tầng cánh sen, đỉnh tháp đặt bình nước cam lồ. Giữa lòng tháp đặt tảng đá xanh hình vuông chạm khắc hình bát quái xen lẫn hoa văn vân xoắn chấm tròn, xung quanh chạm nổi ba lớp với tổng cộng 72 cánh sen.
3. Vì sao các vị vua triều Trần lại được đưa về an táng và xây dựng lăng mộ tại Đông Triều?
Đông Triều (tên cổ là An Sinh) chính là quê gốc của nhà Trần, nơi An Sinh Vương Trần Liễu được cấp đất thang mộc và lập ấp. Ban đầu, các Thượng hoàng Thái Tông và Thánh Tông được an táng tại Thái Bình (Chiêu Lăng, Dụ Lăng). Về sau, khi quân Chiêm Thành tiến công đánh phá dữ dội, triều đình nhà Trần đã quyết định dời các lăng mộ ở Thái Bình về vùng đất cội nguồn An Sinh để tránh bị hủy hoại, từ đó hình thành nên khu lăng Tư Phúc uy nghiêm an táng các vị Thượng hoàng và hoàng đế từ thời vua Anh Tông trở đi.
4. Chùa Bắc Mã giữ vai trò lịch sử gì trong sự kiện thành lập Đệ tứ chiến khu năm 1945?
Đầu năm 1945, đồng chí Nguyễn Kiên Tranh (sư Tuệ) thoát khỏi ngục tù của phát xít Nhật đã khoác áo nhà sư về chùa Bắc Mã gây dựng cơ sở. Chùa được đồng chí Nguyễn Bình, Trần Cung chọn làm căn cứ lập Chiến khu Trần Hưng Đạo. Tại đây, tiểu đội vũ trang thoát ly đầu tiên được thành lập và một lớp bồi dưỡng chính trị cho 50 cán bộ đã được tổ chức. Đêm 7/6/1945, lực lượng vũ trang xuất phát từ chùa Bắc Mã để đánh hạ hàng loạt đồn lính dọc đường 18 vào sáng 8/6/1945, dẫn tới cuộc mít tinh tuyên bố thành lập Đệ tứ chiến khu vào chiều 8/6/1945 tại đình Hồ Lao gần đó.
5. Hiện vật pho tượng Phật thời Lê tại Chùa Nhuệ Hổ có quy mô và ý nghĩa như thế nào trong hệ thống di vật của tỉnh Quảng Ninh?
Chùa Nhuệ Hổ lưu giữ tổng cộng 98 hiện vật quý, trong đó có 15 pho tượng thời Lê. Nổi bật nhất là pho tượng A Di Đà thời Lê có chiều cao 145 cm (chưa tính bệ) và độ rộng vai 60 cm. Theo ghi nhận của khóa luận, đây là pho tượng A Di Đà cổ thời Lê có quy mô kích thước lớn nhất trong số các ngôi chùa hiện còn lại trên địa bàn toàn tỉnh Quảng Ninh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch và văn hóa, đồng thời phác thảo bức tranh toàn cảnh về địa lý, tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội huyện Đông Triều. Công trình tiến hành khảo sát thực địa công phu, trích xuất dữ liệu sử liệu và văn bia xác thực để làm rõ giá trị lịch sử - nghệ thuật của 8 cụm di tích tiêu biểu gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm, vương triều Trần và Đệ tứ chiến khu. Nghiên cứu mang tính ứng dụng thực tiễn cao, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy hỗ trợ công tác bảo tồn di sản và định hướng phát triển loại hình du lịch văn hóa bền vững tại địa phương.