Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HOÁ VÀ DU LỊCH 1. Khaí niệm Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn tiếng Hy Lạp với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này được La tinh hoá thành “tornus” và sau đó thành “tourisme” (tiếng Pháp), “tourism” (tiếng anh)…Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tourism” được dịch thông qua tiếng Hán “du” có nghĩa là đi chơi, “lịch” có nghĩa là từng trải. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau.
Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp tại Roma, các chuyên gia đã đưa ra khái nịêm về du lịch như sau: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”. Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách nội dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt: Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật,. Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn: có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ”.
Khái niệm du lịch của tổ chức du lịch thế giới (WTO-1990): “ Du lịch là một tập hợp các hoạt động và các dịch vụ đa dạng liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hoá, dưỡng sức…và nhìn chung những lý do đó không phải đi kiểm sống”. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005): “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. Như vậy, có khá nhiều khái niệm nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa những nội dung tiêu biểu sau: - Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội; - Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ; - Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài cư trú thường xuyên của họ; - Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình. Chức năng - Chức năng xã hội: Chức năng xã hội thể hiện ở vai trò của nó trong việc giữ gìn, hồi phục sức khoẻ và tăng cường sức sống cho nhân dân.
Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Thông qua du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Điều đó quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội. - Chức năng kinh tế: Chức năng kinh tế của du lịch liên quan mật thiết với vai trò của con người như là một lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội.
Hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của mọi xã hội. Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lý sẽ đem lại kết quả tốt đẹp. Một mặt, nó góp phần vào việc hồi phục sức khoẻ cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt. Chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở một khía cạnh khác.
Đó là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cả cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế. Hơn nữa, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của con người được thoả mãn thông qua thị trường hàng hoá và dịch vụ du lịch, trong đó nổi lên ưu thế cuả dịch vụ giao thông, ăn ở. Do vậy, dịch vụ du lịch là cơ sở quan trọng kích thích sự phát triển kinh tế, là nguồn thu ngoại tệ lớn của nhiều nước. - Chức năng sinh thái: Chức năng sinh thái của du lich được thể hiện trong việc tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái.
Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hoá môi trường tự nhiên xung quanh, bởi vì chính môi trường này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và các hoạt động của con người. Để đáp ứng nhu cầu du lịch, trong cơ cấu sử dụng đất đai nói chung phải dành riêng những lãnh thổ nhât định có môi trường tự nhiên ít thay đổi, xây dựng các công viên rừng quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ nguồn nước và bầu khí quyển nhằn tạo lên môi trường sống thích hợp. Việc làm quen với các thắng cảnh và môi trường tự nhiên bao quanh có ý nghĩ không nhỏ đối với khách du lịch. Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết sâu sắc các tri thức về tự nhiên, hình thành quan niệm và thói quen bảo vệ tự nhiên góp phần giáo dục cho khách du lịch về mặt sinh thái học.
Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt xã hội cần đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của dòng khách du lịch và của việc xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Du lịch - bảo vệ môi trường là những hoạt động gần gũi và liên quan với nhau. - Chức năng chính trị: Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc.
Du lịch quốc tế làm cho cuộc sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau hơn. Ý nghĩa kinh tế - xã hội của du lịch - Du lịch góp phần phát triển kinh tế đất nước, sử dụng ngoại tệ thu được từ lĩnh vực du lịch để góp phần đầu tư vào các lĩnh vực khác như y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội… - Phát triển du lịch sẽ tạo ra công ăn, việc làm và tạo điều kiện tăng thu nhập cho nhân dân địa phương. - Việc khai thác đưa các tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, đòi hỏi phải có đầu tư về mọi mặt: giao thông, bưu điện, kinh tế, văn hoá, xã hội …Do vậy mà việc phát triển du lịch làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội. - Thông qua du lịch, con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thoả mãn được trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong kế hoạch tương lai của mình.
- Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu đất nước, giữ gìn và nâng cao giá trị truyền thống dân tộc. Thông qua các chuyến đi tham quan, nghỉ mát, vãn cảnh …người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hoá dân tộc, qua đó thêm yêu đất nước mình. - Phát triển du lịch có ý nghĩa to lớn đối với việc góp phần khai thác, bảo tồn các di sản văn hoá và dân tộc, góp phần khai thác, bảo tồn các giá trị văn hoá dân tộc, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường tự nhiên, xã hội. - Du lịch làm tăng thêm tình hữu nghị giữa các quốc gia, củng cố nền hoà bình của các dân tộc trên thế giới.
Khái niệm Văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi đời sống vật chất và tinh thần của con người. Ở Trung Quốc, từ “văn hoá” đã xuất hiện trong đời sống ngôn ngữ ở thời Tây Hán (206 TCN - 25 SCN). Lưu Hướng viết trong sách Thuyết uyển bài Chỉ vũ: “Thánh nhân cai trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực. Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phụng tùng, dùng văn hoá không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt”.
Như vậy, trong cách nghĩ của Lưu Hướng, từ văn hoá được hiểu như một cách giáo hoá đối lập với vũ lực, văn hoá gắn với nghĩa giáo hoá. Ở phương tây, từ văn hoá xuất hiện sớm trong đời sống ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học người Đức W.Wundt cho rằng: “Văn hoá là một từ có căn gốc La tinh: colere, sau trở thành cultura nghĩa là cày cấy, gieo trồng”. Từ nét nghĩa này về sau dẫn đến nghĩa rộng hơn là sự hoàn thiện, vun trồng tinh thần, trí tuệ.
Thế kỷ thứ nhất TCN, Ciceron ( nhà hùng biện thời La Mã) có câu nói nổi tiếng: Triết học là văn hoá (sự vun trồng) tinh thần (Filosofia cultura animi est). Mặc dù ra đời sớm trong đời sống ngôn ngữ phương Tây cũng như phương Đông nhưng phải đến thế kỷ thứ XVIII, từ “Văn hoá” mới được đưa vào khoa học, sử dụng như một thuật ngữ khoa học. Từ đó cho đến nay, khái niệm văn hoá được nhiều người đề cập. Năm 1952, trong công trình văn hoá : “Tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa” hai nhà khoa học Mỹ A.