Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa du lịch của sinh viên Bùi Thị Mai Linh (lớp VHL301) tập trung nghiên cứu di tích Tháp Tường Long tại quận Đồ Sơn trong mối quan hệ với chiến lược phát triển du lịch của thành phố Hải Phòng. Hải Phòng được xác định là địa phương sở hữu nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, kết hợp giữa tài nguyên tự nhiên (biển đảo Đồ Sơn, Cát Bà) và hệ thống tài nguyên nhân văn phong phú có bề dày lịch sử. Tại Đồ Sơn, các cuộc khai quật khảo cổ học đã phát lộ phế tích di tích lịch sử văn hóa Tháp Tường Long có niên đại xây dựng từ năm 1058 dưới triều vua Lý Thánh Tông. Đây là công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của mỹ thuật và kỹ thuật xây dựng cổ Việt Nam giai đoạn thế kỷ XI - XII. Di tích đã được xếp hạng là di tích quốc gia, được đưa vào danh mục công trình kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội và tiến hành dự án phục dựng với mục tiêu hoàn thành vào năm 2015.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của tác giả được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch.
  2. Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng và giá trị nhân văn của di tích lịch sử văn hóa Tháp Tường Long và công tác phục dựng lại ngôi chùa tháp này.
  3. Gắn tháp Tường Long với hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn của Hải Phòng, tìm ra định hướng và giải pháp khả thi nhằm phát triển du lịch văn hóa tại thành phố.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Di tích lịch sử tháp Tường Long cùng một số tài nguyên du lịch nhân văn trên địa bàn thành phố Hải Phòng có tiềm năng khai thác phục vụ du lịch.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài giới hạn tại di tích Tháp Tường Long (núi Ngọc Sơn, quận Đồ Sơn) kết nối với mạng lưới tài nguyên du lịch nhân văn trên toàn địa bàn thành phố Hải Phòng; về thời gian, nghiên cứu bao quát từ nguồn gốc lịch sử thời Lý (thế kỷ XI), các mốc khảo cổ học (năm 1978, 1998, 2009) đến giai đoạn thực hiện đề tài và định hướng phục dựng đến năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn quốc tế và các công trình nghiên cứu chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết và khái niệm: Tác giả dẫn giải khái niệm di tích từ Từ điển Hán Việt (NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2006); quan điểm mở rộng về di tích đô thị tại Hội thảo Quốc tế Québec năm 1991; Hiến chương Venice (Vơnidơ - Italia, 1964); Đạo luật 16 về Di sản lịch sử Tây Ban Nha (25/6/1985); Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh (4/4/1984); Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2003 cùng các quy định sửa đổi (Điều 28 và khoản 9 Điều 1); Báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể Phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010. Khái niệm du lịch được phân tích qua định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (World Tourist Organization), Hội nghị Liên Hợp Quốc tại Roma (1963), Pháp lệnh Du lịch, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, cùng quan điểm của các học giả như Ausher, Nguyễn Khắc Viện, Guer Freuler, Trần Nhạn, Azar. Khái niệm văn hóa được tiếp cận qua thống kê 164 định nghĩa của Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn (1952), định nghĩa của Edward Burnett Tylor, Edward Sapir, William Isaac Thomas, Ralph Linton, Pitirim Alexandrovich Sorokin, UNESCO (2002) và Nghị quyết Trung ương 5 Khóa VIII.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp khảo sát điều tra thực địa: Thu thập dữ liệu trực tiếp tại Đồ Sơn và các điểm di tích Hải Phòng nhằm kiểm chứng hiện trạng không gian và khả năng khai thác du lịch.
    • Phương pháp bản đồ: Trực quan hóa đặc điểm phân bố không gian theo lãnh thổ của tài nguyên du lịch nhân văn.
    • Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Sưu tầm, chọn lọc dữ liệu từ nguồn sách, báo, tạp chí chuyên ngành, báo cáo khai quật khảo cổ và văn bản pháp lý.
    • Phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh: Xử lý tài liệu và số liệu thực tế để đối chiếu kiến trúc tháp Tường Long với các công trình cùng thời Lý, từ đó đánh giá thực trạng tôn tạo và đề xuất giải pháp.
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo kết quả các đợt khai quật khảo cổ học năm 1978 (Viện Khảo cổ học, TS. Trịnh Cao Tưởng), đợt khai quật năm 1998 (Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng, Trịnh Minh Hiên và Đỗ Xuân Trung) và đợt thăm dò năm 2009 theo Quyết định số 827/QĐ-BVHTTDL; sử liệu trích xuất từ Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lược, minh văn chuông chùa Vân Bản; bài nghiên cứu của KTS. Ngô Huy Giao trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử Hải Phòng (1985); số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01/04/2009 của thành phố Hải Phòng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chung của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về di tích, du lịch, văn hóa và mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố này:

  • Khái niệm và phân loại di tích: Phân loại theo Luật Di sản văn hóa gồm 4 loại: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh. Cung cấp số liệu thống kê: tính đến tháng 8/2010, Việt Nam có hơn 40.000 di tích và thắng cảnh (hơn 3.000 di tích quốc gia, hơn 5.000 di tích cấp tỉnh; 11 tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng chiếm khoảng 70% tổng số di tích cả nước).
  • Vai trò của di tích lịch sử văn hóa: Đóng góp trên 4 phương diện gồm giáo dục truyền thống, giáo dục thẩm mỹ, phát triển kinh tế (tạo việc làm, kích cầu các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) và phát triển văn hóa - du lịch.
  • Khái niệm và bản chất du lịch: Phân tích các mô hình lý thuyết như du lịch 3S (sea, sand, sun), 4S (sex tour hoặc an toàn/security/safely), 4T (travel, transport, tranquility, transparenty) và quan niệm 5 yếu tố của Trung Quốc (thực, trú, hành, lạc, mua sắm). Du lịch đóng vai trò là động lực kinh tế cho các nước đang phát triển (là nguồn xuất khẩu hàng đầu của 20/48 nước chậm phát triển nhất thế giới).
  • Khái niệm và chức năng văn hóa: Phân tích từ nguyên học (chữ Hán và chữ Latinh colere, cultus animi của Thomas Hobbes); phân loại 6 nhóm định nghĩa văn hóa (miêu tả, lịch sử, chuẩn mực, tâm lý học, cấu trúc, nguồn gốc). Xác định 3 chức năng văn hóa gắn với đề tài: giáo dục, nhận thức và thẩm mỹ.
  • Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch: Du lịch được xem là sự mở rộng không gian văn hóa. Tác giả dẫn nhận định của Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh về tính tương hỗ giữa hai lĩnh vực. Phân tích tác động hai chiều: văn hóa là nguồn cung và tạo cầu cho du lịch; du lịch tác động tích cực đến văn hóa tinh thần, văn hóa trí tuệ, văn hóa quy phạm, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro tiêu cực như thương mại hóa di sản, hiện đại hóa tùy tiện làm biến dạng di tích, làm sai lệch giá trị lễ hội truyền thống và gây xung đột trong quan hệ giữa du khách và cư dân bản địa.

Chương 2: Tháp Tường Long - Giá trị lịch sử và nhân văn

Chương 2 trình bày toàn diện về bối cảnh địa phương, lịch sử xây dựng, kết quả các cuộc khai quật khảo cổ và giá trị kiến trúc - nhân văn của tháp Tường Long:

  • Khái quát thành phố Hải Phòng và quận Đồ Sơn: Hải Phòng là đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia, thành phố lớn thứ 3 Việt Nam, phấn đấu đến năm 2025 trở thành đô thị loại đặc biệt. Dân số theo điều tra ngày 01/04/2009 là 1.838.302 người (thành thị 847.058 người chiếm 46,1%; nông thôn 990.244 người chiếm 53,9%). Quận Đồ Sơn được thành lập ngày 12/9/2007 theo Nghị định 145/2007/NĐ-CP, cách trung tâm Hải Phòng 20 km về hướng đông nam. Điểm danh hệ thống di tích, danh thắng tiêu biểu: đảo Hòn Dáu, Cát Bà, suối khoáng nóng Tiên Lãng, Quán hoa (5 quán), Bảo tàng Hải Phòng (kiến trúc gô-tích cuối thập niên 1910), Chùa Đỏ (pho tượng Thích Ca bằng gỗ mít cao 5,4 m do nghệ nhân Đoàn Trúc tạc từ 20 m³ gỗ thành phẩm), Đình Hàng Kênh, Đền Nghè, Chùa Dư Hàng, Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm...
  • Lịch sử Tháp Tường Long: Xây dựng năm 1058 trên núi Ngọc Sơn (cách mặt biển 100 m). Gạch xây tháp dài 0,45 m, ước tính tháp cao khoảng 45 m, là ngọn tháp ở bình địa cao nhất thời bấy giờ. Móng hình vuông mỗi chiều xấp xỉ 8 m, bốn cạnh hướng tâm, lòng rỗng đặt tượng A Di Đà. Theo bài viết của KTS. Ngô Huy Giao (1985), tháp có 12 tầng: năm 1288 bị sét đánh đổ ngọn; năm 1322 sét đánh sạt 2 tầng trên (thời điểm này tháp đã tồn tại 264 năm); năm 1426 giặc Minh phá tháp lấy đồng đúc vũ khí; năm 1791 nhà Lê phá tháp lấy gạch tu bổ thành Thăng Long; năm 1805 vua Gia Long phá tháp lấy gạch xây thành Trấn Hải Dương. Năm 1971 - 1972, phế tích trên đỉnh núi bị san phẳng để làm đài quan sát quân sự của Trung đoàn 50 và Ban chỉ huy tác chiến Đồ Sơn (điểm cao 91).
  • Tiến trình khai quật khảo cổ học:
Tiêu chí Khai quật năm 1978 Khai quật năm 1998 Thăm dò năm 2009
Đơn vị phụ trách Viện Khảo cổ học (TS. Trịnh Cao Tưởng) phối hợp Sở VH-TT và Bảo tàng Hải Phòng Sở VH-TT Hải Phòng (Trịnh Minh Hiên, Đỗ Xuân Trung) Viện Khảo cổ học phối hợp Sở VHTTDL Hải Phòng (Quyết định 827/QĐ-BVHTTDL)
Quy mô mặt bằng Nền móng vuông, lòng rỗng, móng 3 tầng giật cấp; tường uốn cong góc đao đình; lũy đất bảo vệ rộng 4 m có kè gạch và đá hộc; cửa mở hướng Nam. Hình vuông 7,95 m x 7,95 m; hướng lệch Bắc - Nam 30 độ; lòng tháp vuông 2,95 m x 2,95 m; tường dày 2,50 m; lòng chảo, góc đao đình; gạch tạo góc vát (3-5 cm, 4-6 cm); móng lộ 2 cấp (7,95 m và 7,45 m, giật 25 cm). Lũy đất rộng 3,7 m. Khai quật thăm dò diện tích 250 m² (mở các hố TS). Phát hiện hệ thống móng kè đá bảo vệ tháp dài 60,30 m liên kết giữa các hố TS18, TS19, TS20, TS13; xác định 6 hố (TS9-TS14) không có dấu tích cổ, đủ điều kiện phỏng dựng.
Hiện vật đá 01 nửa bệ tượng bát giác đá xanh chạm rồng thời Lý; 01 chân tảng hoa sen 32 cánh (75x75x25 cm, nhụy rộng 46 cm); 02 chiếc cối cửa đá cao 2,37 m (lỗ ngõng 12,5 cm, 3 hàng cánh sen); 01 phần bệ sen chạm sóng nước; 01 phần tượng A Di Đà (cao 0,5 m, vai rộng 0,8 m, cổ 3 ngấn có mộng lắp ghép). Không phát hiện hiện vật đá mới (các hiện vật năm 1978 đã bị lấp lại khi kết thúc khai quật). Hàng đá kè móng phía Bắc dài 5,24 m (10 viên, dài 37-76 cm, rộng 23-44 cm); hàng đá góc Tây dài 3,08 m (11 viên, dài 26-52 cm, rộng 16-47 cm); đá chạm hình rồng.
Hiện vật đất nung và gốm Gạch lõi tháp 20x10x5 cm khắc chữ: “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (1057); gạch ốp rồng phượng có mộng; đầu sư tử; ngói mũi hài (dày 2 cm, mũi cao 6 cm). Viên gạch nguyên vẹn 19x12x5 cm; mảng phù điêu 2 rồng chầu lá đề có lỗ mộng; kích thước gạch phổ biến: 40x25x5 cm, 37x23x5 cm, 38x23x5 cm; viên đặc biệt: to 56x23x5 cm, nhỏ 19x12x5 cm; khung chữ Hán 3x15 cm. Chất kết dính là bùn đất ("đáng"). Ngói bò nóc, ngói âm dương, ngói mũi sen, ngói mũi lá. Đầu ngói hoa sen phân loại theo 7 kích cỡ; tượng uyên ương phân loại theo 12 kích cỡ; lá đề trang trí rồng, phượng, đấu kê; gạch ốp rồng; đồ gốm sứ nhiều thời kỳ.

Chi tiết số liệu đo đạc cấu kiện đất nung thu được tại đợt thăm dò năm 2009:

  • Đầu ngói hoa sen (7 loại đường kính): Loại 1 (7,1 - 7,8 cm; dày 1,2 - 1,3 cm); Loại 2 (8,6 cm; dày 1,1 cm); Loại 3 (10,8 cm; dày 2 cm); Loại 4 (12,4 - 12,8 cm; dày 1,5 - 1,7 cm); Loại 5 (13 cm; dày 1,5 - 2,8 cm); Loại 6 (14,8 cm; dày 2 cm); Loại 7 (15,3 cm; dày 1,7 cm).
  • Tượng trang trí uyên ương (12 loại kích cỡ):
Nhóm cỡ Chiều dài Chiều rộng Chiều dày
Loại 1 7,5 cm 4,6 cm 4,2 cm
Loại 2 8,4 cm 9,0 cm 5,8 cm
Loại 3 8,9 cm 5,0 cm 5,6 cm
Loại 4 10,5 cm 6,1 cm 7,0 cm
Loại 5 11,3 - 11,8 cm 7,8 - 8,1 cm 5,2 - 6,4 cm
Loại 6 13,0 cm 10,3 cm 6,1 cm
Loại 7 13,7 cm 8,0 cm 6,6 cm
Loại 8 13,7 cm 9,6 cm 9,3 cm
Loại 9 14,3 cm 9,4 cm 10,8 cm
Loại 10 15,3 cm 8,8 cm 8,1 cm
Loại 11 18,0 cm 9,7 cm 9,0 - 9,4 cm
Loại 12 18,5 - 18,6 cm 10,5 - 12,5 cm 9,4 - 10,6 cm
  • Giá trị nhân văn và lịch sử văn hóa thời Lý: Vương triều Lý (1009 - 1225) đưa Phật giáo thành quốc giáo. Dẫn chứng sử liệu: năm 1031 cả nước có 950 hương ấp xây dựng chùa quán; năm 1097 Thái hậu Ỷ Lan cho xây nhiều chùa Phật; năm 1115 Thái hậu tiếp tục cho xây hơn 100 ngôi chùa. Các ngọn tháp tiêu biểu cùng thời gồm tháp Đại Thắng Tự Thiên (Bảo Thiên, 1057, cao 30 tầng), tháp chùa Lâm Sơn (1051, 1105), tháp chùa Diên Hựu, tháp chùa Chương Sơn (1108), tháp Sùng Thiện Diên Linh (núi Đọi, 1122). Tháp Tường Long khẳng định vị thế trung tâm văn hóa - tôn giáo của vùng duyên hải thời bấy giờ.

Chương 3: Gắn tháp Tường Long với các di tích lịch sử văn hóa khác để phát triển du lịch Hải Phòng

Theo kết cấu luận điểm đã định hình trong đề tài, Chương 3 tập trung vào các giải pháp kết nối không gian du lịch văn hóa:

  • Xây dựng tuyến du lịch kết nối di tích văn hóa - tôn giáo: Gắn kết tháp Tường Long trên đỉnh núi Ngọc Sơn với hệ thống đền, chùa cổ Hải Phòng như chùa Dư Hàng (Phúc Lâm Tự), đền Nghè, đình Hàng Kênh (đình Rồng Bay), chùa Đỏ, đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (huyện Vĩnh Bảo) và chùa Bảo Hà (cái nôi nghề tạc tượng).
  • Kết hợp du lịch tâm linh và di tích kháng chiến: Tại bán đảo Đồ Sơn, tháp Tường Long được kết nối với các địa danh lịch sử cận - hiện đại như Bến Nghiêng (nơi lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Bắc), Bến K15 (điểm khởi đầu của đường Hồ Chí Minh trên biển) và dấu tích căn cứ phòng thủ điểm cao 91.
  • Tích hợp chuỗi sản phẩm du lịch biển - văn hóa: Khắc phục tính thời vụ của du lịch nghỉ dưỡng biển thuần túy tại Đồ Sơn bằng cách bổ sung sản phẩm tham quan di tích lịch sử và văn hóa tâm linh quanh năm.
  • Định hướng giải pháp bảo tồn và phục dựng: Khai thác tư liệu khảo cổ học để tiến hành phỏng dựng tháp Tường Long chính xác, phục vụ trưng bày hiện vật tại chỗ kết hợp với Bảo tàng Hải Phòng, đồng thời ngăn chặn các tác động tiêu cực của thương mại hóa và xâm hại cảnh quan di tích.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả trích xuất thực tế:
    • Xác lập cơ sở khoa học khẳng định niên đại và kỹ thuật xây dựng tháp: Minh văn trên gạch “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” chứng minh vật liệu được sản xuất vào năm 1057 và công trình khởi dựng năm 1058 thời vua Lý Thánh Tông.
    • Khôi phục mặt bằng kiến trúc: Tháp có cấu trúc 4 cạnh, nền móng hình vuông 7,95 m x 7,95 m, tường dày 2,5 m, lòng tháp rỗng 2,95 m x 2,95 m (diện tích lòng tháp xấp xỉ 9 m² đặt pho tượng đá A Di Đà), kết cấu chân móng giật cấp, 4 góc uốn cong dạng góc đao đình.
    • Hệ thống hóa các đợt nghiên cứu khảo cổ học (1978, 1998, 2009), ghi nhận số liệu cụ thể của các hiện vật kiến trúc (bệ tượng đá xanh, chân tảng sen 32 cánh, cối cửa 2,37 m, tượng uyên ương 12 kích cỡ, đầu ngói sen 7 kích cỡ).
    • Khảo sát vị trí phỏng dựng: Kết quả mở 6 hố thăm dò (TS9 đến TS14) xác nhận không có di tích cổ bên dưới, đủ căn cứ mặt bằng cho việc phục dựng tháp Tường Long mới.
  • Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
    • Đẩy nhanh tiến độ phục dựng tháp Tường Long đảm bảo các tiêu chuẩn phục cổ dựa trên chứng cứ khảo cổ học, hướng tới mốc hoàn thành năm 2015.
    • Quy hoạch liên kết không gian văn hóa: Xây dựng tuyến du lịch kết nối tháp Tường Long với các di tích lịch sử nhân văn tại Đồ Sơn và trung tâm thành phố Hải Phòng.
    • Kiểm soát các hoạt động kinh doanh dịch vụ manh mún, ngăn chặn tình trạng hiện đại hóa di tích làm mất đi tính nguyên gốc.
  • Đóng góp của đề tài: Tác giả tự nêu việc nghiên cứu đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa bảo tồn di tích với phát triển du lịch; tổng hợp hệ thống tư liệu khảo cổ học về ngọn tháp cổ thời Lý thế kỷ XI phục vụ công tác giới thiệu di sản và đề xuất các định hướng khai thác du lịch nhân văn cho địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Nguồn tư liệu sử liệu thành văn ghi chép trực tiếp về tháp Tường Long còn rất ít ỏi và tản mát qua các thời kỳ.
    • Hiện trường di tích chịu tổn hại nặng nề qua chiến tranh và các hoạt động xây dựng dân sinh (việc xây dựng chùa Tháp năm 1990 làm xáo trộn nền móng phía Đông và Nam; 3 hiện vật đá tìm thấy năm 1978 sau khi chôn lấp lại đã bị thất lạc).
    • Cuộc thăm dò khảo cổ học năm 2009 mới thực hiện trên phạm vi 250 m², chưa thể khai quật bóc tách toàn diện quy mô móng kè chùa Vân Bản kéo dài về phía Đông.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục mở rộng diện tích khai quật khảo cổ học xung quanh khu vực đỉnh núi để làm sáng tỏ toàn bộ cấu trúc chùa Vân Bản thời Trần/Lê.
    • Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động du lịch thực tế sau khi công trình phỏng dựng tháp Tường Long hoàn thành vào năm 2015.
    • Xây dựng các chương trình du lịch chuyên đề kết nối tháp Tường Long với hệ thống chùa tháp thời Lý trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Văn hóa du lịch, Du lịch học, Quản lý văn hóa, Bảo tồn di sản, cũng như các nhà nghiên cứu lịch sử - kiến trúc cổ Việt Nam.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Chương 1 cung cấp tổng quan lý thuyết toàn diện, có trích dẫn chuẩn xác các điều luật của Luật Di sản văn hóa, Luật Du lịch, các định nghĩa văn hóa và hệ thống phân loại di tích.
    • Chương 2 chứa đựng tập hợp số liệu khảo cứu khảo cổ học chi tiết về nền móng, kỹ thuật xử lý góc đao đình, kích thước gạch ngói và bảng phân loại các cấu kiện kiến trúc đất nung thời Lý tại Đồ Sơn.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tháp Tường Long được xác định khởi dựng vào năm nào và dựa trên những chứng cứ cụ thể nào? Tháp được xây dựng vào năm 1058 dưới triều vua Lý Thánh Tông, được ghi chép trong sử cũ (Đại Việt sử lược) và được phối kiểm chuẩn xác bằng các viên gạch khảo cổ in nổi chữ Hán: “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” (sản xuất năm 1057, niên hiệu Long Thụy Thái Bình năm thứ 4 đời vua thứ ba nhà Lý).

  2. Kích thước và cấu trúc nền móng tháp Tường Long ghi nhận qua đợt khai quật năm 1998 là bao nhiêu? Móng tháp có hình vuông mỗi chiều 7,95 m, hướng lệch Bắc - Nam 30 độ; lòng tháp hình vuông mỗi chiều 2,95 m; tường tháp dày 2,50 m; chân móng xây giật 3 cấp (lộ rõ 2 cấp 7,95 m và 7,45 m, giật 25 cm); 4 góc nền uốn cong theo kiểu góc đao đình; chất kết dính xây dựng là đất bùn dẻo (dân gian gọi là "đáng").

  3. Những hiện vật bằng đá tiêu biểu nào đã được phát hiện trong đợt khai quật khảo cổ năm 1978? Các hiện vật đá gồm: nửa bệ tượng bát giác bằng đá xanh chạm rồng; chân tảng cột kích thước 75x75x25 cm chạm hoa sen 32 cánh; 2 cối cửa đá cao 2,37 m có 3 hàng cánh sen; một phần bệ sen chạm hoa văn sóng nước; và một phần thân tượng Phật A Di Đà bằng đá cao 0,5 m, vai rộng 0,8 m, cổ có 3 ngấn và có mộng ghép đầu.

  4. Theo tài liệu của KTS. Ngô Huy Giao (1985), tháp Tường Long đã trải qua những biến cố tàn phá lịch sử nào? Tháp nguyên bản có 12 tầng: năm 1288 bị sét đánh đổ ngọn; năm 1322 sét đánh sạt 2 tầng trên; năm 1426 giặc Minh phá tháp lấy đồng đúc vũ khí; năm 1791 triều Lê phá tháp lấy gạch tu bổ thành Thăng Long; năm 1805 vua Gia Long tiếp tục lấy gạch xây thành Trấn Hải Dương.

  5. Đợt khai quật thăm dò diện tích 250 m² vào năm 2009 nhằm giải quyết những nhiệm vụ nào và đạt kết quả gì? Đợt thăm dò thực hiện 3 nhiệm vụ: tìm dấu tích nền chùa Vân Bản (phát hiện móng kè đá bảo vệ dài 60,30 m liên kết giữa các hố); xác định vị trí dự kiến phục dựng tháp (khẳng định 6 hố TS9 - TS14 không có dấu tích kiến trúc cổ, đủ điều kiện xây dựng); bổ sung nguồn tư liệu về hiện vật (thu thập đầu ngói hoa sen 7 kích cỡ và tượng uyên ương 12 kích cỡ).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Mai Linh đã tổng hợp và phân tích một cách hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa di tích lịch sử văn hóa và phát triển du lịch, áp dụng vào trường hợp cụ thể của di tích Tháp Tường Long tại Đồ Sơn, Hải Phòng. Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về các giá trị lịch sử, kiến trúc nghệ thuật thời Lý thế kỷ XI thông qua số liệu thực chứng từ ba đợt khai quật khảo cổ học năm 1978, 1998 và 2009. Đồng thời, đề tài xác lập định hướng gắn kết phế tích sau phục dựng vào không gian tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hải Phòng nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn và đa dạng hóa sản phẩm du lịch địa phương.