Chương I giải thích từ ngữ :“Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể 7 hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”. Từ điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh định nghĩa:“Tín ngưỡng: lòng ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [2, tr. Trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam đỉnh cao Đại Việt” tác giả Nguyễn Đăng Duy viết:“Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí hoặc do con người tưởng tượng ra những vị thần đến mưc họ cho rằng những lực lượng ấy có ảnh hưởng, chi phối đời sống số 9 phận con người và gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [5, tr. Theo Từ điển Tôn giáo:“Tín ngưỡng là lòng tin, sự ngưỡng mộ ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên thần bí.
Lực lượng đó có thể mang hình thức biểu tượng Trời, Phật, Thần, Thánh.hay là một sức mạnh hư ảo huyền bí vô hình nào đó được con người tin là có thật và tôn thờ” [6, tr. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cho rằng, “Ở nước ta, thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa. Khi ta nói tự do tín ngưỡng, người ngoại quốc có thể hiểu đó là tự do về ý thức (conscience) hay tự do về tín ngưỡng tôn giáo (croyance religieuse). Nếu hiểu tín ngưỡng là conscience thì tín ngưỡng bao trùm lên tôn giáo; nhưng nếu hiểu là croyance religieuse thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo” [18, tr.
Như vậy, thuật ngữ “tín ngưỡng” dù được hiểu theo các hướng khác nhau nhưng các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, tín ngưỡng là sự ngưỡng mộ, niềm tin của con người vào các thế lực siêu nhiên, hư ảo, có tính chất thiêng liêng huyền bí. Đặc điểm của tín ngưỡng Qua một số khái niệm đưa ra của các nhà nghiên cứu về tín ngưỡng, có thể đưa ra một số đặc điểm của tín ngưỡng như sau: - Tín ngưỡng là niềm tin của con người gắn với đời sống tinh thần của con người. - Đối tượng của tín ngưỡng là một lực lượng vô hình mà con người tạo ra bằng trí tưởng tượng của mình có tác động lớn đến đời sống con người, có tính linh thiêng và huyền bí. 8 - Tín ngưỡng không mang tính chặt chẽ, hệ thống giáo lý, giáo luật và không có tổ chức như tôn giáo.
- Tín ngưỡng mang tính dân gian gắn với phong tục tập quán, nét sinh hoạt văn hóa dân gian và thờ các vật tôn thờ: Các hiện tượng tự nhiên (sấm chớp, mưa, lũ lụt,.), vật thể (nước, lửa, núi, sông,.), con người (người đã mất, người có công với đất nước,.), nhân vật siêu thực (thần thánh, thượng đế,. Các loại hình tín ngưỡng Việc phân loại tín ngưỡng được các nhà nghiên cứu dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc vào tính chất vốn có của các loại hình tín ngưỡng và nhu cầu, mục đích của chủ thể nghiên cứu. - Dựa vào đối tượng tham gia tín ngưỡng và không gian thực hiện thì có các loại hình tín ngưỡng sau: Tín ngưỡng cộng đồng, tín ngưỡng trong dòng họ, tín ngưỡng gia đình, tín ngưỡng cá nhân. - Dựa trên tiêu chí hình thái học gồm các hình thức tín ngưỡng sau: Thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người); tín ngưỡng nghề nghiệp; tín ngưỡng thờ thần.
- Dựa theo sức mạnh, vai trò các vị thần có thể chia thành: Tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình (thần bình dân); tín ngưỡng thờ cúng ngoài cộng đồng (thần quan trọng). Sự phân loại này có lẽ phải bàn thêm song nó đã bàn đến góc độ mối quan hệ giữa người và Thần – Thánh có các cấp độ khác nhau, từ tình cảm, lòng tin đến sự ngưỡng mộ. - Dựa vào đối tượng là các vị Thần – Thánh được thờ cúng thì có: Tín ngưỡng thần linh và tín ngưỡng thánh nhân. - Dựa vào chức năng vai trò của tín ngưỡng với con người – xã hội: Tín ngưỡng thánh nhân định hướng nhân cách, tâm lý cộng đồng, tín ngưỡng thần linh thể hiện ước vọng, cầu mong và tâm lý cộng đồng.
Trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam của tác giả Trần Ngọc Thêm, tác giả đã trình bày phân loại chia tín ngưỡng thành 3 loại: - Tín ngưỡng phồn thực - Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên (Thờ Tứ phủ, thờ Tứ pháp, thờ Mẫu, thờ Động thực vật); 9 - Tín ngưỡng sùng bái con người (Thờ cúng tổ tiên, thờ hồn vía, thờ Thành Hoàng) [14, tr 127 – 142]. Vai trò, giá trị của tín ngưỡng trong đời sống của người Việt a. Vai trò của tín ngưỡng trong đời sống của người Việt Tín ngưỡng từ xa xưa được coi là nhu cầu tinh thần quan trọng của bộ phận người Việt Nam. Trong suốt các thời kỳ lịch sử người Việt đã tiếp nhận nhiều yếu tố tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo.
Đến nay tín ngưỡng vẫn được bảo tồn và có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân và được thể hiện: là điểm tựa tinh thần cho con người; trong giáo dục đạo đức; phát huy dân chủ, đoàn kết và giữ gìn bản sắc văn hoá của người Việt Nam. * Tín ngưỡng có vai trò là điểm tựa tinh thần cho con người Là một loại hình văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của con người. Trong thế giới mà con người đang sống, xoay quanh mặt tích cực cũng có những áp lực về vấn đề trong xã hội, ảnh hưởng từ thiên nhiên,. khiến con người lo sợ, gặp bất hạnh, khó khăn và không biết nguyên nhân cách giải quyết khắc phục.
Những lúc khó khăn, bất lực ấy con người luôn mơ ước, khát khao được giúp đỡ, cứu rỗi của các thế lực siêu nhiên. Trong những quan niệm về niềm tin tín ngưỡng, niềm tin vào các đấng siêu nhiên, các vị Thần, Thánh,. con người tìm thấy sự an ủi, hy vọng, động viên tinh thần trong những thời điểm đó và cho họ nhưng hy vọng. Cho đến hiện tại, niềm tin của con người vào thế lực siêu nhiên và sự tồn tại của thế lực siêu nhiên được coi là điểm tựa tinh thần vững chắc và luôn hiện diện trong đời sống của mỗi con người.
* Tín ngưỡng có vai trò giáo dục đạo đức con người Trong tín ngưỡng, các loại hình tín ngưỡng dù tồn tại dưới nhiều hình thức nhưng đều góp phần vào việc giáo dục và hướng con người đến với những giá trị tốt đẹp. Người dân Việt Nam coi thờ cúng tổ tiên là sự tri ân đối với những bậc sinh thành đồng thời để cầu mong tổ tiên luôn ở gần con cháu, động viên, phù trợ giúp con cháu trong đời sống thường nhật. Chính do quan niệm “chết chưa phải là hết”, nên mỗi gia đình đều thực hành “sống tết, chết giỗ” đối với các bậc sinh thành, coi đó là nề nếp của gia đình, dòng họ. Thông qua nghi lễ thờ cúng tổ tiên, con người muốn bày tỏ lòng biết ơn, thái độ thành kính đối 10 với tổ tiên và coi đó là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đạo hiếu” và lối sống nhân văn trọng nghĩa tình.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khuyến khích con người hướng đến cái thiện, phấn đấu lao động và học tập tốt để thành đạt, làm rạng rỡ tổ tiên, dòng tộc, làng xóm, quê hương. Không chỉ thờ cúng những người có công sinh thành, dưỡng dục đã khuất, mà còn thờ cúng những người có công với cộng đồng, làng xã, đất nước. Điều đó góp phần gắn kết giữa gia đình, làng xóm với đất nước; góp phần củng cố, duy trì, phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của quê hương (như lòng hiếu thảo, lòng nhân ái, tính cộng đồng, cộng cảm, đức tính cần cù, sáng tạo, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ, lòng yêu nước,…). Sự tồn tại yếu tố thiêng giúp điều chỉnh nhận thức và hành vi của con người, hướng con người đến hoàn thiện nhân cách theo chuẩn mực chung của xã hội.
* Tín ngưỡng có vai trò giữ gìn và phát huy giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tín ngưỡng ra đời, tồn tại và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; là một hoạt động sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của người dân lao động. Trong quá trình tồn tại và phát triển, các loại hình tín ngưỡng tiếp tục tiếp biến các giá trị văn hóa, đạo đức, phong tục, tập quán của cộng đồng, nhờ vậy một mặt làm cho tín ngưỡng có sức sống lâu bền trong lòng người dân, mặt khác trở thành nơi lưu giữ và phát huy nhiều giá trị đạo đức truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Một trong những giá trị đạo đức truyền thống nổi bật của dân tộc được lưu giữ lâu bền trong tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt Nam và ngày nay vẫn được phát huy mạnh mẽ trong cuộc sống là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Theo đạo lý truyền thống dân tộc, bất cứ người nào cũng phải phụng dưỡng ông bà, cha mẹ khi họ còn sống và thờ cúng ông bà, cha mẹ đã khuất.
Việc thờ cúng thể hiện sự hiếu thuận của con cháu, đồng thời là phương thức giữ gìn truyền thống, là cách thức trao truyền văn hóa, giáo dục đạo làm người cho các thế hệ sau. Giá trị của tín ngưỡng trong đời sống của người Việt Tín ngưỡng đem lại những giá trị đặc sắc đối với văn hóa Việt Nam. Đó là những giá trị được truyền đời và bảo lưu từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình hội nhập và phát triển tín ngưỡng còn góp phần làm đa dạng 11 thêm nền văn hóa Việt Nam, giá trị đó được thể hiện trên nhiều mặt mà điển hình nhất là trên ba phương diện: giá trị văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa tổ chức đời sống.
* Giá trị của tín ngưỡng xét về phương diện văn hóa vật chất Tín ngưỡng để lại những dấu ấn không thể mờ theo năm tháng bởi những công trình tín ngưỡng, tôn giáo. Có thể thấy tại các đình, đền, chùa thờ được xây dựng theo lối kiến trúc, hoa văn trang trí tinh xảo, đẹp mắt. Nhìn vào các công trình đó, ta có thể thấy nét đặc sắc trong kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật tạc tượng. Những hiện vật còn lưu giữ ở các nơi thờ mang giá trị lịch sử, khoa học vô cùng to lớn.