Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch City tour tại thành phố Hải Phòng" do sinh viên Đào Thị Huyền Trang (lớp VH 902, ngành Văn hóa Du lịch) thực hiện. Đề tài xuất phát từ các tiền đề thực tiễn và lý luận sau:

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Ngành du lịch Việt Nam gắn liền với tài nguyên thiên nhiên và bề dày lịch sử - văn hóa, trong đó định hướng đa dạng hóa sản phẩm du lịch luôn giữ vị trí ưu tiên. Thành phố Hải Phòng là đô thị loại I cấp quốc gia, sở hữu hệ thống di tích lịch sử xếp hạng, các trung tâm thương mại, khu công nghiệp và hai trọng điểm du lịch tự nhiên là bán đảo Đồ Sơn cùng khu dự trữ sinh quyển thế giới quần đảo Cát Bà. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch của địa phương thời điểm nghiên cứu chủ yếu tập trung vào loại hình du lịch nghỉ dưỡng và du lịch biển. Đoạn thị trường City tour (du lịch tham quan nội thị và vùng phụ cận) chưa được các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành chú trọng khai thác đúng mức, sản phẩm còn đơn điệu và manh mún.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
    1. Bước đầu tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá hệ thống tiềm năng tài nguyên du lịch phục vụ loại hình City tour tại Hải Phòng.
    2. Khảo sát và phân tích thực trạng khai thác loại hình du lịch City tour trên địa bàn thành phố thời gian qua.
    3. Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển loại hình du lịch City tour và xây dựng một số chương trình City tour cụ thể nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các tài nguyên du lịch văn hóa, tài nguyên du lịch tự nhiên, các giá trị văn hóa của di tích lịch sử, lễ hội chủ yếu trong khu vực nội thành, cùng các giá trị thiên nhiên của các điểm du lịch tự nhiên, du lịch biển có khả năng khai thác tại thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong không gian địa lý thành phố Hải Phòng (khu vực nội thành và các điểm phụ cận trong bán kính kết nối thuận tiện dưới 100 km như Đồ Sơn, Cát Bà, Thủy Nguyên, An Lão, Vĩnh Bảo) với các số liệu thứ cấp giai đoạn 2002–2008.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận sử dụng khung lý luận chuyên ngành du lịch và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam:

  • Hệ thống khái niệm và văn bản quản lý:
    • Khái niệm về du lịch: Tổng hợp quan điểm của Ausher (du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân), Viện sĩ Nguyễn Khắc Viện (sự mở rộng không gian văn hóa của con người), nhà kinh tế học Kalfiotis, và định nghĩa tại Luật Du lịch Việt Nam năm 2006.
    • Khái niệm tài nguyên du lịch: Định nghĩa theo giáo trình chuyên ngành và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (Điều 4).
    • Khái niệm về loại hình City tour: Dạng thức du lịch tham quan di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên, công trình kiến trúc trong đô thị và vùng phụ cận trong bán kính không quá 100 km; đặc trưng đi về trong ngày, sử dụng chủ yếu dịch vụ vận chuyển và mua sắm, ít phát sinh nhu cầu lưu trú qua đêm.
    • Khái niệm chương trình du lịch (Tour Programme): Căn cứ "Quy chế quản lý lữ hành" của Tổng cục Du lịch, Nghị định số 27/2001/NĐ-CP ngày 05/06/2001 về kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch, cùng Luật Du lịch Việt Nam.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, số liệu: Xử lý các tài liệu xuất bản (sách, báo, tạp chí chuyên ngành) và hệ thống báo cáo thống kê ngành du lịch Hải Phòng.
    • Phương pháp phân tích, dự báo: Đánh giá xu hướng luồng khách và khả năng đáp ứng của điểm đến.
    • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tuyến giao thông và cơ sở dịch vụ trên địa bàn thành phố để ghi nhận hiện trạng.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê hoạt động kinh doanh lữ hành, lượng khách, doanh thu và cơ sở vật chất kỹ thuật do Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch Hải Phòng công bố từ năm 2002 đến năm 2008.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lí luận về du lịch, ý nghĩa của việc phát triển du lịch và xu hướng phát triển du lịch trong giai đoạn hiện nay

Chương I hệ thống hóa các khái niệm nền tảng của ngành du lịch:

  • Khái niệm và đặc điểm tài nguyên du lịch: Khẳng định tài nguyên du lịch bao gồm cả yếu tố tự nhiên và nhân văn, hữu hình và vô hình, phân bố theo không gian địa lý, mang tính mùa vụ, có khả năng tái tạo nếu khai thác hợp lý, mang tính sở hữu chung của cộng đồng và được khai thác, tiêu dùng tại chỗ.
  • Phân loại loại hình du lịch: Phân chia theo 8 tiêu chí: môi trường tài nguyên (văn hóa, thiên nhiên); mục đích chuyến đi (tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng, khám phá, thể thao, lễ hội, tôn giáo, MICE, chữa bệnh, thăm thân, kinh doanh); lãnh thổ hoạt động (quốc tế, nội địa, quốc gia); đặc điểm địa lý (biển, núi, đô thị, thôn quê); phương tiện giao thông (xe đạp, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay); loại hình lưu trú; độ dài chuyến đi; hình thức tổ chức và phương thức hợp đồng.
  • Bản chất của City tour: Xuất hiện từ thế kỷ 18–19 tại các đô thị lớn châu Âu. Không gian giới hạn trong bán kính 100 km, khách chủ yếu chi tiêu cho vận chuyển, ăn uống và mua sắm. Đối tượng tham quan mở rộng từ di tích cổ đến các trung tâm thương mại hiện đại, khu công nghiệp và công trình công cộng.
  • Chức năng và ý nghĩa: Du lịch đảm nhiệm 4 chức năng chính: xã hội (phục hồi sức khỏe, giảm tỷ lệ mắc các bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, thần kinh; tăng cường hiểu biết văn hóa), kinh tế (nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy hạ tầng), sinh thái (nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường) và chính trị (ngoại giao nhân dân, củng cố hòa bình).
  • Xu hướng phát triển hiện đại: Gia tăng quy mô du khách (nhờ thu nhập tăng, chế độ làm việc 5 ngày/tuần tăng thời gian rỗi, phương tiện hiện đại); xã hội hóa thành phần du khách (không còn là đặc quyền của tầng lớp thượng lưu); mở rộng địa bàn từ trục Bắc - Nam sang các vùng núi cao và khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Chương II: Tiềm năng và thực trạng khai thác loại hình du lịch City tour tại thành phố Hải Phòng

Chương này trình bày chi tiết về tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và thực trạng kinh doanh City tour tại địa phương:

1. Hệ thống tiềm năng tài nguyên du lịch

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Diện tích tự nhiên toàn thành phố với hơn 125 km bờ biển, mật độ sông ngòi 0,65–0,8 km/km²; cấu trúc kinh tế công nghiệp - xây dựng chiếm 40% GDP, du lịch và dịch vụ đóng góp trên 50% GDP; dân số năm 2008 đạt trên 1,8 triệu người với gần 1 triệu lao động. Toàn thành phố có 43 điểm du lịch phân bố ở các phân vùng.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên:
    • Khu du lịch Đồ Sơn: Bán đảo kéo dài 5 km trên dãy núi Rồng cao 25–130 m, chia làm 3 khu (khu II có biệt thự Bảo Đại, khu III có Pagodon và khách sạn Vạn Hoa - Hotel de la Pointe).
    • Quần thể Cát Bà: Gồm 366 đảo, đảo chính rộng khoảng 100 km²; Vườn Quốc gia Cát Bà rộng 15.800 ha rừng, bảo tồn loài voọc đầu trắng (khoảng 60 cá thể), đỉnh Cao Vọng cao 322 m, các hang động tiêu biểu (Luồn, Trung Trang, Gia Luận, Thiên Long) và các bãi tắm Cát Cò, Cát Trai Gái.
    • Danh thắng Núi Voi (An Lão): Cách trung tâm dưới 10 km đường chim bay, được xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1960, chứa các di chỉ khảo cổ thời kỳ đồ đá, đồ đồng, các hang động tự nhiên (Họng Voi, Già Vị, hang Thành ủy) và hội xuân rằm tháng Giêng.
    • Đảo Hòn Dáu: Diện tích 10 ha, rừng nguyên sinh nhiệt đới 3 tầng thực vật, ngọn hải đăng xây dựng năm 1884 (hoàn thành 1896) cao 67 m có tầm chiếu xa 40 km, đền thờ Nam Hải Thần Vương với lễ hội ngày 8–10 tháng 2 âm lịch.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn:
    • Đền Nghè: Nằm cách Nhà hát thành phố 600 m, thờ Nữ tướng Lê Chân, hoàn chỉnh năm 1919; bảo lưu khánh đá nguyên khối (cao 1 m, rộng 1,6 m, dày 5 cm) và sập đá; lễ hội vào 8/2 và 25/12 âm lịch.
    • Chùa Dư Hàng (Phúc Lâm Tự): Phường Hồ Nam, quận Lê Chân; khởi dựng từ thời Tiền Lê (980–1009), gắn liền thiền phái Trúc Lâm thời Trần, trùng tu lớn năm 1672 dưới thời sư cụ Chân Huyền; lưu giữ hệ thống tượng pháp thời Nguyễn, bộ kim sách "A hàm" cổ; xếp hạng di tích quốc gia năm 1986.
    • Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo): Quy mô 4 ha gồm 9 hạng mục (tháp bút Kình Thiên, đền thờ xây dựng năm 1765, Am Bạch Vân, tượng đá granit cao 5,7 m nặng 8,5 tấn, hồ Bán nguyệt rộng 1.000 m², chùa Song Mai, Quán Trung Tân với bia đá nặng 4 tấn phục dựng ngày 21/12/2000).
    • Di chỉ khảo cổ học Tràng Kênh (Minh Đức, Thủy Nguyên): Xưởng chế tác đá trang sức có niên đại trên 3.400 năm thuộc giai đoạn chuyển tiếp hậu kỳ đá mới sang sơ kỳ đồng thau, diện tích hàng vạn m² chia thành khu A và khu B, tầng văn hóa dày 1,6–2,1 m chứa gốm xốp và công cụ ghè đẽo.
    • Bảo tàng Hải Phòng: Số 65 Điện Biên Phủ, công trình kiến trúc gothic xây dựng năm 1919, khuôn viên 1 ha với 14 phòng trưng bày chia làm 9 chủ đề lịch sử - văn hóa.
    • Nhà hát thành phố: Xây dựng năm 1904 theo kiến trúc Pháp, gắn liền sự kiện thành lập UBND Cách mạng lâm thời ngày 23/08/1946 và cuộc chiến đấu của 39 chiến sĩ ngày 20/11/1946.
    • Điểm dịch vụ và thương mại hiện đại: Suối khoáng nóng Tiên Lãng (khai thác từ 1983, năm 1999 đầu tư mở rộng với 4 phân khu chức năng); Cảng Hải Phòng (thành lập 1874, mở rộng năm 1900, dài trên 10 km dọc sông Cấm với 37 cẩu chân đế); Chợ Sắt (khởi công xây lại thành siêu thị 6 tầng ngày 25/05/1992, gồm 2.000 gian hàng); Trung tâm thương mại TD Plaza (khu đô thị Ngã Năm sân bay Cát Bi, vận hành thương mại từ tháng 6/2006 với diện tích sàn 26.000 m² và 200 căn hộ cao cấp đưa vào sử dụng đầu năm 2007).

2. Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng giao thông

  • Hạ tầng giao thông kết nối liên vùng gồm Quốc lộ 5 (nối Hà Nội 102 km), Quốc lộ 10, tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng, đường bay Cát Bi - TP. Hồ Chí Minh. Toàn thành phố có hơn 100 xe khách du lịch, 9 tàu du lịch với tổng số hơn 860 ghế ngồi, 31 hãng taxi và 05 tuyến xe buýt nội tỉnh. Tuyến phà Đình Vũ và phà Gót thông xe từ 30/04/2002 tạo trục kết nối bộ xuyên đảo Cát Bà.
  • Năng lực lưu trú đạt trên 220 cơ sở với hơn 5.000 buồng (tăng gấp 3 lần so với 10 năm trước đó), trong đó có hơn 80 cơ sở với 3.000 buồng đạt tiêu chuẩn 1–4 sao; công suất buồng trung bình đạt 70%/năm. Tuy nhiên, toàn thành phố chỉ có 7 khách sạn quy mô trên 100 phòng (Hữu Nghị, Harbour View, Holiday View, Pearl River, Làng quốc tế Hướng Dương, Xây Dựng, Nhà khách Hải Quân).

3. Thực trạng khai thác luồng khách và hoạt động lữ hành

Thống kê chỉ tiêu hoạt động du lịch của Hải Phòng giai đoạn 2002–2008 được tác giả trích dẫn từ Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch:

Chỉ tiêu Đơn vị tính 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Khách quốc tế Nghìn lượt 320,0 350,0 440,0 512,0 606,5 719,0 668,5
Tổng doanh thu Tỷ đồng 441,0 404,0 464,0 552,0 722,0 986,0 1.100+

So sánh phân bổ khách và doanh thu giữa khu vực biển đảo (Đồ Sơn, Cát Bà) và khu vực nội thành giai đoạn 2003–2007:

Khu vực Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Đồ Sơn & Cát Bà Khách quốc tế (nghìn lượt) 159,3 268,0 183,5 236,0 84,0
Doanh thu (tỷ đồng) 162,0 223,0 190,0 224,5 400,0
Nội thành Hải Phòng Khách quốc tế (nghìn lượt) 190,7 172,0 328,5 370,5 435,0
Khách nội địa (nghìn lượt) 383,8 583,0 515,5 692,5 746,0
Doanh thu (tỷ đồng) 242,0 241,0 362,0 497,5 586,0

Trên địa bàn thành phố có gần 100 đơn vị kinh doanh lữ hành, trong đó có 13 doanh nghiệp lữ hành quốc tế (tiêu biểu như: Công ty CP Du lịch Hải Phòng, Công ty CP Du lịch dịch vụ Hải Phòng, Công ty CP Du lịch dịch vụ dầu khí Hải Phòng, Công ty TNHH MTV DL-DV Vạn Hoa, Công ty CP Cung ứng tàu biển thương mại DL&DV Hải Phòng, Công ty CP KS-DL Đại Dương, Công ty TNHH Chào Buổi Sáng...). Hầu hết các đơn vị chỉ khai thác City tour đơn lẻ cho khách quốc tế (thị trường Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc), còn thị trường nội địa hầu như bỏ ngỏ. Lượng khách ghé thăm các điểm văn hóa nội thành chỉ đạt khoảng 20.000 lượt/năm; thời gian lưu trú bình quân ngắn (1 – 1,5 ngày).

4. Các hạn chế và bất cập tại điểm đến

  • Tuyến City tour hiện hành nghèo nàn, lịch trình 1 ngày đi bộ chủ yếu quanh cụm Nhà hát lớn - Bảo tàng - Tượng Lê Chân - Quán Hoa - Đền Nghè - Chùa Dư Hàng - phố Quang Trung - Chợ Sắt.
  • Công tác quản lý tại điểm tham quan yếu kém: Nhà hát lớn không có lịch mở cửa cố định cho khách vào xem nội thất; khu vực Tượng đài Lê Chân bị lấn chiếm làm bãi chụp ảnh lưu động và sân chơi thể thao; Quán Hoa sắp đặt lộn xộn; Đền Nghè và Chùa Dư Hàng hoàn toàn thiếu bãi đỗ xe cho đoàn xe du lịch lớn; đường vào chùa Dư Hàng xuống cấp, mặt đường nhiều ổ gà và vỉa hè bị chiếm dụng buôn bán.
  • Hạ tầng xe buýt quá thiếu (chỉ có 05 tuyến), phà Đình Vũ và phà Gót thường xuyên quá tải mùa cao điểm; đội ngũ hướng dẫn viên thiếu hụt ngoại ngữ chuyên sâu.

Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển loại hình du lịch City tour tại thành phố Hải Phòng

Dựa trên các phân tích thực trạng, khóa luận đề xuất các nhóm giải pháp then chốt nhằm thúc đẩy phân khúc City tour:

  • Xây dựng và đa dạng hóa tuyến chương trình du lịch: Thiết kế các tour chuyên biệt kết hợp nhiều nhóm tài nguyên:
    1. Tuyến City tour di sản văn hóa và kiến trúc nội đô (1 ngày): Kết hợp tham quan Bảo tàng thành phố, Nhà hát lớn, Quán Hoa, các công trình kiến trúc thời Pháp, Đền Nghè, Chùa Dư Hàng và mua sắm tại Chợ Sắt, TD Plaza.
    2. Tuyến City tour sinh thái - biển kết hợp văn hóa (2 ngày 1 đêm): Khởi hành từ nội thành qua các di tích lịch sử, kết nối xuống bán đảo Đồ Sơn (thăm biệt thự Bảo Đại, bãi biển, đảo Hòn Dáu) hoặc mở rộng sang huyện An Lão tham quan danh thắng Núi Voi.
    3. Tuyến City tour du khảo đồng quê và làng nghề truyền thống: Mở rộng về phía Vĩnh Bảo (thăm Khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) và huyện Kiến Thụy bằng phương tiện xe đạp hoặc xe du lịch chuyên dụng.
  • Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ hỗ trợ du lịch:
    • Quy hoạch điểm dừng, đỗ xe du lịch tại các di tích trọng điểm như Chùa Dư Hàng, Đền Nghè; giải tỏa lấn chiếm lòng lề đường và cải tạo mặt đường giao thông tiếp cận di tích.
    • Ban hành quy chế phối hợp mở cửa định kỳ phục vụ khách tham quan bên trong Nhà hát thành phố.
    • Tăng cường số lượng tuyến xe buýt kết nối các điểm du lịch nội thành và vùng phụ cận; nâng cao năng lực vận chuyển của hệ thống phà và tàu cao tốc tuyến Cát Bà.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và liên kết doanh nghiệp:
    • Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ thuyết minh và nâng chuẩn ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung) cho đội ngũ hướng dẫn viên chuyên trách City tour.
    • Thiết lập cơ chế liên kết chuỗi giữa 13 công ty lữ hành quốc tế trên địa bàn thành phố với các khách sạn, đơn vị vận chuyển và ban quản lý di tích để chuẩn hóa chất lượng tour và triển khai các chiến dịch quảng bá chung.

Kết quả và đóng góp

  • Tổng hợp số liệu hệ thống: Khóa luận tập hợp được bộ số liệu thống kê thực tế về hiện trạng du lịch Hải Phòng giai đoạn 2002–2008, phân tích rõ cơ cấu doanh thu và lượng khách quốc tế/nội địa giữa khu vực đô thị trung tâm và các trung tâm nghỉ dưỡng biển (Đồ Sơn, Cát Bà).
  • Nhận diện đúng điểm nghẽn thực tiễn: Khóa luận chỉ ra nghịch lý của du lịch Hải Phòng tại thời điểm nghiên cứu: mặc dù doanh thu nội thành đạt 586 tỷ đồng (2007) và đón 435 nghìn lượt khách quốc tế, phân khúc City tour văn hóa chỉ đón khoảng 20.000 lượt khách/năm với thời gian lưu trú ngắn (1 – 1,5 ngày). Nguyên nhân chủ yếu nằm ở khâu tổ chức tuyến điểm, thiếu bãi đỗ xe tại di tích và sản phẩm tour đơn điệu.
  • Đóng góp về mặt giải pháp ứng dụng: Tác giả cụ thể hóa giải pháp bằng việc thiết kế các chương trình tour mẫu gắn kết giữa di sản văn hóa, cảnh quan sinh thái ngoại vi và trung tâm thương mại hiện đại (TD Plaza, Chợ Sắt), cung cấp luận cứ thực tiễn cho các doanh nghiệp lữ hành và cơ quan quản lý du lịch địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế:
    • Khóa luận chủ yếu tiếp cận theo phương pháp định tính và thống kê mô tả từ nguồn số liệu thứ cấp; chưa triển khai các cuộc khảo sát định lượng trực tiếp bằng bảng hỏi (survey) đối với khách du lịch về mức độ hài lòng hoặc khả năng chi trả cho City tour.
    • Dữ liệu tập trung vào giai đoạn trước năm 2009, phản ánh hiện trạng hạ tầng giao thông và dịch vụ du lịch ở thời điểm các công trình lớn (như đường xuyên đảo Cát Bà, TD Plaza) mới đi vào vận hành sơ khai.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng khảo sát xã hội học đối với thị trường khách nội địa về nhu cầu City tour kết hợp ẩm thực (food tour) và du lịch cuối tuần.
    • Đánh giá hiệu quả kinh tế và tính khả thi tài chính chi tiết khi đưa vào khai thác các tuyến xe buýt chuyên trách du lịch (Hop-on Hop-off) tại trung tâm thành phố Hải Phòng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo rõ ràng trong các phạm vi sau:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch & Lữ hành, Địa lý Du lịch; các nhà nghiên cứu lịch sử đô thị và văn hóa Hải Phòng; cán bộ xây dựng sản phẩm tại các công ty lữ hành trên địa bàn Hải Phòng và vùng duyên hải Bắc Bộ.
  • Phần nội dung đáng chú ý:
    • Mục 2.2 và 2.3 Chương II: Cung cấp bản mô tả chi tiết, giàu dữ liệu lịch sử - văn hóa và thông số khảo cổ về các di tích (Chùa Dư Hàng, Đền Nghè, Di chỉ Tràng Kênh, Khu di tích Nguyễn Bỉnh Khiêm).
    • Hệ thống bảng thống kê số liệu giai đoạn 2002–2008: Cung cấp tư liệu thứ cấp so sánh tương quan phát triển giữa du lịch biển đảo và du lịch đô thị Hải Phòng thời kỳ đầu hội nhập.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa loại hình City tour và phạm vi hoạt động như thế nào?

Theo khóa luận, City tour là loại hình du lịch tham quan các di tích lịch sử, cảnh quan thiên nhiên và công trình kiến trúc trong thành phố cùng các vùng phụ cận. Đặc trưng cơ bản là bán kính tham quan không quá 100 km, khách chủ yếu đi về trong ngày, sử dụng dịch vụ vận chuyển và mua sắm, ít phát sinh nhu cầu lưu trú qua đêm.

2. Tương quan lượng khách và doanh thu giữa nội thành Hải Phòng với Đồ Sơn - Cát Bà giai đoạn 2003–2007 ra sao?

Theo số liệu của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch trong khóa luận, doanh thu du lịch nội thành tăng từ 242 tỷ đồng (2003) lên 586 tỷ đồng (2007), cao hơn doanh thu khu vực Đồ Sơn - Cát Bà (tăng từ 162 tỷ lên 400 tỷ đồng cùng thời kỳ). Lượng khách quốc tế đến nội thành năm 2007 đạt 435 nghìn lượt, vượt trội so với 84 nghìn lượt tại Đồ Sơn - Cát Bà. Tuy nhiên, phần lớn khách đến nội thành nhằm mục đích công vụ hoặc trung chuyển, lượng khách tham quan di tích lịch sử văn hóa chỉ đạt khoảng 20.000 lượt/năm.

3. Những trở ngại hạ tầng cụ thể nào tại các điểm di tích nội thành được tác giả ghi nhận?

Tác giả khảo sát thực tế và chỉ rõ: Nhà hát thành phố không mở cửa cho khách xem kiến trúc bên trong; khu vực Tượng đài Lê Chân bị tận dụng làm bãi chụp ảnh lưu động và sân cầu lông; Đền Nghè và Chùa Dư Hàng hoàn toàn không có bãi đỗ xe cho các đoàn khách đi xe lớn; đường dẫn vào chùa Dư Hàng bị xuống cấp với nhiều ổ gà và vỉa hè bị hàng quán lấn chiếm.

4. Quy mô cơ sở lưu trú và phương tiện vận chuyển du lịch của Hải Phòng tại thời điểm nghiên cứu đạt mức nào?

Thành phố có trên 220 cơ sở lưu trú với hơn 5.000 buồng, trong đó có hơn 80 cơ sở (3.000 buồng) đạt chuẩn 1–4 sao, nhưng chỉ có 7 khách sạn đạt quy mô trên 100 phòng. Về vận chuyển, toàn thành phố có hơn 100 xe du lịch, 9 tàu du lịch (hơn 860 ghế), 31 hãng taxi và 05 tuyến xe buýt.

5. Khóa luận ghi nhận có bao nhiêu doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế tại Hải Phòng?

Văn bản thống kê danh sách 13 doanh nghiệp lữ hành quốc tế đặt trụ sở tại thành phố Hải Phòng (như Công ty CP Du lịch Hải Phòng, Công ty CP Du lịch dịch vụ Hải Phòng, Công ty CP Du lịch dịch vụ dầu khí Hải Phòng, Công ty TNHH MTV DL-DV Vạn Hoa, Công ty CP KS-DL Đại Dương, Công ty TNHH Chào Buổi Sáng...). Đây cũng là lực lượng nòng cốt tham gia khai thác các tour tham quan nội thành cho đối tượng khách nước ngoài.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đào Thị Huyền Trang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về City tour và cung cấp bức tranh toàn diện về tiềm năng tài nguyên du lịch tự nhiên lẫn nhân văn của thành phố Hải Phòng. Thông qua việc phân tích thực trạng khai thác giai đoạn 2002–2008, công trình đã chỉ rõ những nút thắt về hạ tầng tiếp cận di tích, phương tiện vận chuyển và sự đơn điệu trong thiết kế tour tuyến. Các giải pháp và tuyến tour đề xuất trong khóa luận mang tính ứng dụng cụ thể, đóng vai trò tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản lý và định hướng phát triển sản phẩm du lịch đô thị tại địa phương.